vanban.org

Bản án 40/2022/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước Tuyên án 05/07/2022 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "TRẦN THANH H. "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 38 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỘC NINH
TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2022/HS-ST
Ngày: 05/7/2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỘC NINH, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Lê Thị Kiều Chinh

Các hội thẩm nhân dân: 1. Bà Trần Xuân Đạm

2. Ông Võ Đức Thọ

- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Đào Thị Lệ Thy- Thư ký Tòa án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh tham gia phiên tòa: Ông Lê Giang Huy - Kiểm sát viên .

Ngày 05 tháng 7 năm 2022 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước xét xử vụ án hình sự thụ lý số: 29/2022/TLST-HS ngày 27/5/2022 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39/2022/QĐXXST-HS ngày 20/6/2022, đối với bị cáo:

Trần Thanh H - Tên gọi khác: H. Giới tính: Nam. Sinh năm: 1991 tại An Giang. Nơi cư trú: Ấp Chàng Hai, xã L, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. Quốc tịch: Việt Nam – Dân tộc: Kinh – Tôn giáo: Không. Nghề nghiệp: Không. Trình độ học vấn: 02/12. Cha: Trần Ngọc P, sinh năm: 1953. Mẹ: Nguyễn Thị Cẩm H1, sinh năm: 1969 (đã chết). Bị cáo có 03 anh chị em, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất là bị cáo.

Tại bản án hình sự sơ thẩm số 117/2014/HSST ngày 26/9/2014 và bản án hình sự sơ thẩm số 35/2018/HSST ngày 06/8/2018 của TAND huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước, lý lịch bị cáo năm sinh 1992; bản án hình sự sơ thẩm số 24/2020/HSST ngày 24/11/2020 lý lịch bị cáo năm sinh 1991, nay năm sinh bị cáo 1991. Tại biên bản xác minh ngày 19/5/2022 Công an xã L, huyện Lộc Ninh xác định do thay đổi đăng ký Hộ khẩu thường trú và thay đổi giấy chứng minh nhân dân, do đó Trần Thanh H có lý lịch sinh năm 1991 và Trần Thanh H sinh năm 1992 là một người.

Bị cáo đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ thuộc Công an huyện Lộc Ninh từ ngày 01/3/2022 cho đến nay.

Tiền sự: Không.

Tiền án: - Ngày 26/9/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh tuyên phạt 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS theo Bản án số 117/2014/HSST.

- Ngày 06/8/2018 bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh tuyên phạt 15 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 theo Bản án số 35/2018/HSST.

- Ngày 24/11/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh tuyên phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS theo bản án số 24/2020/HSST. Đến ngày 27/8/2021 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích.

* Bị hại: Ông Dư Nhật M, sinh năm 1980 – vắng mặt Nơi cư trú: Ấp V, xã L, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước. HKTT: Ấp Thanh Tân, xã M, huyện Tân Biên, tỉnh Tây Ninh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 20 giờ, ngày 04/11/2021, do không có tiền tiêu xài nên Trần Thanh H nảy sinh ý định đi trộm cắp tài sản. Bị cáo đi bộ từ nhà anh Nguyễn Minh T, sinh năm: 1982, tại ấp V, xã L, huyện Lộc Ninh, là anh họ của bị cáo đến khu vực xung quanh ấp V, xã L để tìm tài sản sơ hở nhằm trộm cắp. Khi đến nhà thờ giáo xứ L, bị cáo thấy cổng sau nhà thờ không khóa nên đã đột nhập vào nhà thờ để tìm tài sản trộm cắp. Sau khi vào được khuôn viên nhà thờ, bị cáo đi dọc theo hành lang bên trái và đến dùng tay mở cánh của phụ bên hông nhà thờ để đi vào bên trong. Lúc này, bị cáo phát hiện 02 cái bình hoa (kiểu dáng lộc bình) bằng gỗ Cẩm chiều cao 56cm, đường kính 16cm đang đặt bên góc trái của khu vực bục sân khấu, quan sát thấy không có người trông giữ, bị cáo trộm cắp cặp bình hoa mang ra ngoài hành lang rồi khép cửa lại về trạng thái đóng ban đầu. Sau đó, mang 02 bình hoa bằng gỗ trộm cắp được đi ra tường rào của nhà thờ, bị cáo ném 02 bình hoa qua tường rào rồi trèo qua mang 02 bình hoa về nhà anh T cất giấu và ngủ lại tại đây.

Đến khoảng 06 giờ ngày 05/11/2021, anh T ngủ dậy phát hiện 02 bình hoa bằng gỗ trong nhà thì hỏi bị cáo, bị cáo nói là của bạn nhờ mang đi bán. Đến khoảng 18 giờ ngày 06/11/2021, H nói anh T mang cặp bình hoa bằng gỗ trộm cắp được mang đi bán. Do biết anh Nguyễn Văn S, sinh năm: 1970, ngụ ấp Bồn Xăng, xã L, huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước có làm nghề mộc nên anh T mang cặp bình hoa sang hỏi bán cho anh S nhưng anh S không mua. Thấy vậy, anh T gửi lại cặp bình hoa nhờ anh S sơn PU và mượn anh S số tiền 200.000đ để về mua rượu uống. Khi về đến nhà, anh T nghi ngờ về nguồn gốc của cặp bình hoa nên hỏi bị cáo thì bị cáo thừa nhận đó là tài sản trộm cắp của nhà thờ L. Nghe vậy, anh T liền đến gặp anh S trả lại số tiền 200.000 đồng và lấy cặp bình hoa mang về trả cho bị cáo để bị cáo mang trả lại cho nhà thờ. Còn anh S, sau khi anh T mang cặp bình hoa bằng gỗ về, do biết sự việc nhà thờ bị mất trộm và nghi ngờ cặp bình hoa bằng gỗ của anh T mang đến là tài sản của nhà thờ nên anh S đã gọi điện thoại báo cho ông Dư Nhật M, sinh năm 1980, là linh mục của nhà thờ biết và ông M đã trình báo Công an.

Quá trình truy xét, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Lộc Ninh đã tiến hành mời Trần Thanh H làm việc. Tại Cơ quan điều tra, H đã thành khẩn khai báo toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản của mình.

Quá trình điều tra, anh Nguyễn Minh T đã tự nguyện giao nộp: 02 bình hoa (kiểu dáng lộc bình) bằng gỗ Cẩm chiều cao 56cm, đường kính 16cm. Đến ngày 25/4/2022, Cơ quan điều tra đã xử lý vật chứng trả lại tài sản cho chủ sở hữu là ông Dư Nhật M.

Căn cứ kết luận định giá tài sản số: 73 ngày 17/11/2022 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lộc Ninh kết luận: 02 bình hoa (kiểu dáng lộc bình) bằng gỗ Cẩm chiều cao 56cm, đường kính 16cm trị giá 3.000.000 đồng.

Tại bản cáo trạng số 27/CT-VKS ngày 26/5/2022 Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, tỉnh Bình Phước truy tố bị cáo Trần Thanh H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát thực hành quyền công tố đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trần Thanh H (H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm h, s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo từ 15 đến 18 tháng tù giam.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Dư Nhật M đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu gì khác nên không đặt ra.

Đối với anh Nguyễn Minh T, là người đã cho bị cáo Trần Thanh H để 02 bình hoa bằng gỗ tại nhà của mình và mang 02 bình hoa đi bán cho anh Nguyễn Văn S nhưng anh S không mua nên anh T đã gửi 02 bình hoa bằng gỗ lại nhà anh S. Tuy nhiên anh T và anh S đều không biết đó là tài sản do bị cáo H trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không đề cập xử lý.

Bị cáo không tranh luận, không kêu oan.

Lời nói sau cùng của bị cáo trước khi Hội đồng xét xử nghị án:

Xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo;

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lộc Ninh, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung của cáo trạng. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại, người làm chứng, phù hợp thời gian, địa điểm nơi xảy ra vụ án và toàn bộ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ nên có cơ sở xác định: Khoảng 20 giờ, ngày 04/11/2021, bị cáo Trần Thanh H đi bộ từ nhà anh Nguyễn Minh T, tại ấp V, xã L, huyện Lộc Ninh, đến nhà thờ giáo xứ L thực hiện hành vi trộm cắp 02 cái bình hoa (kiểu dáng lộc bình) bằng gỗ Cẩm chiều cao 56cm, đường kính 16cm của ông Dư Nhật M mang về nhà anh T cất giấu. Sau đó nhờ anh T mang đi bán. Theo kết quả định giá tài sản của hội đồng định giá trong tố tụng hình sự huyện Lộc Ninh giá trị tài sản bị cáo trộm cắp là 3.000.000đ (ba triệu đồng). Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS.

Tại thời điểm thực hiện hành vi phạm tội bị có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng do lười biếng lao động, muốn có tiền để tiêu xài nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Bị cáo thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo là xem thường pháp luật, trực tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của người khác được luật pháp bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình an ninh, chính trị tại địa phương, Hội đồng xét xử cần xử phạt nghiêm, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra để có đủ thời gian răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo trước đây đã từng phạm tội bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh xét xử 03 lần cụ thể:

Ngày 26/9/2014 bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh tuyên phạt 18 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS theo Bản án số 117/2014/HSST.

Ngày 06/8/2018, bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh tuyên phạt 15 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 138 BLHS năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 theo Bản án số 35/2018/HSST.

Ngày 24/11/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Lộc Ninh tuyên phạt 12 tháng tù giam về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS theo Bản án số 24/2020/HSST.

Đến ngày 27/8/2021 bị cáo chấp hành xong hình phạt tù nhưng chưa được xóa án tích thì đến ngày 04/11/2021 bị cáo lại tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Tại phiên toà bị cáo thành khẩn khai báo. Đây là tình tiết xem xét giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Cáo trạng số: 27/CTr-VKS, ngày 26/5/2022 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lộc Ninh truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung bổ sung năm 2017 là hoàn toàn có cơ sở, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Dư Nhật M đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên không xem xét.

Đối với anh Nguyễn Minh T, là người đã cho bị cáo để 02 bình hoa bằng gỗ tại nhà của mình và mang 02 bình hoa đi bán cho anh Nguyễn Văn S nhưng anh S không mua nên anh T đã gửi 02 bình hoa bằng gỗ lại nhà anh S. Tuy nhiên anh T và anh S đều không biết đó là tài sản do bị cáo trộm cắp mà có nên Cơ quan điều tra không xử lý là phù hợp.

Về án phí: Bị cáo phải chịu theo luật định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Trần Thanh H (H) phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về điều luật áp dụng và mức hình phạt:

Áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51, điểm h khoản 1 Điều 52, Điều 38 của Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Trần Thanh H (H) 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 01/3/2022.

Tiếp tục tạm giam bị cáo 45 ngày tính từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.

3. Về trách nhiệm dân sự: Bị hại là ông Dư Nhật M đã nhận lại tài sản và không yêu cầu gì khác nên không xem xét.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 135 Bộ luật tố tụng hình sự. Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo phải chịu 200.000 đồng tiền án phí Hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo 15 ngày tính từ ngày nhận bản án hoặc niêm yết theo quy định của pháp luật.

Cỡ chữ