vanban.org

Bản án 40/2022/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Bình Thuận Tuyên án 21/04/2022 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 21/04/2022 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhậnkháng cáo của bị cáo Phạm Thanh H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2021/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Tuyên bố:Bị cáo Phạm Thanh H phạm tội“Trô ̣m cắp tài sản”. Xử phạt: Bị cáo Phạm Thanh H27(Hai mươi bảy) tháng tù, hình phạt tù tính từ ngày thi hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Thanh H trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhậnkháng cáo của bị cáo Phạm Thanh H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2021/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.
  • Căn cứ chính? Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2022/HS-PT
Ngày: 21-4-2022

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH THUẬN

- Với thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa:Ông Lương Thanh Chín.

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Hồng Thái và ông Nguyễn Văn Thành.

- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa:Ông Phan Đình Phú - Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận tham gia phiên tòa:Bà Nguyễn Thị Hoàn - Kiểm sát viên.

Trong ngày21tháng4năm 2022 tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Bình Thuận, xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 116/2021/HS-PT ngày 01 tháng 12 năm 2021đối với bị cáo Phạm Thanh H do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2021/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Bị cáo có kháng cáo:

Phạm Thanh H,sinh năm 1973 tại tỉnh Bình Thuận; nơi cư trú: Khu phố E, phường TH, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận;nghề nghiệp: Thợ xây dựng; trình độ học vấn: 4/12; giới tính: nam; dân tộc: kinh; quốc tịch: Việt nam; tôn giáo: không; con ông Phạm Văn Đ (đã chết) và bà Lê Thị Nh; có vợ và 03 con;

Tiền án:

-Ngày 18/12/2003, bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 06 tháng tù về tội: “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 04/HSST. Ngày 27/10/2004 chấp hành xong hình phạt.

Ngày 19/7/2011 Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết ra Quyết định miễn thi hành án phí hình sự và dân sự sơ thẩm số 132/2011/QĐ-MTHA). Đối với phần bồi thường dân sự nêu trong bảnánbị cáochưathi hành.

- Ngày 11/11/2010 bị Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết xử phạt 12 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo Bản án hình sự sơ thẩm số 186/HSST.

Ngày 30/7/2011 chấp hành xong hình phạt. Tháng 7/2011 chấp hành xong phần án phí hình sự và án phí dân sự sơ thẩm. Đối với phần bồi thường dân sự nêu trong bảnán bị cáochưathi hành.

Tiền sự: Không.

Bị cáo hiện đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú.

Bị cáo cáo mặt.

Bị hại:Ông Lê Tấn T, sinh năm 1976. (vắng mặt)

Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn LT, xã HL, huyện HTB, tỉnh Bình Thuận.

Chỗ ở: Khu phố LS, phường MN, thành phố PT, tỉnh Bình Thuận

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:Khoảng 11 giờ ngày 24/12/2020Phạm Thanh H điều khiển xe mô tô biển số 86H7-6634 từ huyện Bắc Bình về thành phố Phan Thiết. Khi đến khu phố Long Sơn, phường Mũi Né, thành phố Phan Thiết, Hùng ghé vào quán cà phê của anh Lê Tấn Tuấn gọi 02 lon bia để uống. Khoảng 30 phút sau, Hùng phát hiện tại bàn thờ ông địa trong quán anh Tuấn có 01 điện thoại di động hiệu Oppo A31 đang sạc pin nhưng không có người trông coi nên Hùng nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Hùng đi đến bàn thờ ông địa, rút dây sạc ra rồi giấu chiếc điện thoại Oppo A31 vào bên trong lưng quần, phía trước bụng mà Hùng đang mặc rồi đi bộ ra trước cửa quán để tẩu thoát.

Cùng lúc này, anh Tuấn từ phía sau quán đi vào, tìm chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A31 nhưng không thấy nên anh Tuấn nghi ngờ Hùng đã lấy điện thoại của mình. Anh Tuấn chạy ra phía trước quán nơi Hùng đứng, nói: “Mày lấy điện thoại của tao hả, trả lại đây”, Hùng lấy chiếc điện thoại Oppo A31 trả lại cho anh Tuấn. Anh Tuấn giữ Hùng lại và trình báo sự việc đến Công an phường Mũi Né.

Tại Kết luận định giá số 07/KL-HĐĐG ngày 11/01/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Phan Thiết kết luận: “Chiếc điện thoại di động hiệu Oppo A31 tổng giá trị tài sản là 4.050.000đồng”.

Vật chứng của vụ án:01 điện thoại di động hiệu Oppo A31 màu đen, số Imei 1: 860646041792556; số Imei 2: 860646041792549.

Ngoài ra Cơ quan Công an còn thu giữ của Phạm Thanh H: 01 xe mô tô hiệu Attila, biển số 86H7-6634 và 01 điện thoại di động hiệu Mastel màu đỏ đen, số Imei 1: 301014165470235; số Imei 2: 301014165470243.

Thu giữ của ông Lê Tấn Tuấn: 01 vỏ hộp điện thoại Oppo A31, phía sau có số Imei 1: 860646041792556; số Imei 2: 860646041792549.

Xử lý vật chứng và dân sự: 01 điện thoại di động Oppo A31 màu đen, số Imei 1: 860646041792556, số Imei 2: 860646041792549 và 01 vỏ hộp điện thoại Oppo A31, phía sau có số Imei 1: 860646041792556, số Imei 2: 860646041792549, Cơ quan điều tra đã trả lại cho bị hại. Ông Tuấn đã nhận lại tài sản trên và không yêu cầu gì về dân sự.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Mastel màu đỏ đen và 01 xe mô tô hiệu Attila, biển số 86H7-6634, do không liên quan đến vụ án nên Cơ quan điều tra đã trả lại cho Phạm Thanh H và bà Ngô Thị Anh Ngọc.

Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2021/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, đã quyết định:

Căncứ vào: Điểm g Khoản 2 Điều 173, Điểm s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 50, Điều 38Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố:Bị cáo Phạm Thanh H phạm tội“Trô ̣m cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thanh H27tháng tù, hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.

Ngoài ra bản án sơ thẩm đã tuyên các quyết định khác về nghĩa vụ nộp án phí, thông báo thời hạn kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 30/9/2021 bị cáo Phạm Thanh Hcó đơn kháng cáo xinđượcgiảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận phát biểu ý kiến: Áp dụng Điểm a Khoản 1 Điều 355, Điều 356 Bộ luật Tố tụng hình sự.Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo giữ nguyên bản án sơ thẩm.

- Ý kiến của bị cáo: Giữ nguyên kháng cáo, xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Phạm Thanh Hthừa nhận Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” là đúng, không oan. Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo kháng cáo xin đượcgiảm nhẹ hình phạt.

[2] Xét kháng cáo của bị cáo, Hội đồng xét xử nhận thấy: Ngày 24/12/2020, bị cáoPhạm Thanh H đã thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của ông Lê Tấn Tuấn là một điện thoại di động hiệuOppo A31 màu đentổng giá trị tài sản là 4.050.000đồng thì bị phát hiện bắt giữ.

Với hành vi phạm tội nêu trên, do bị cáo Phạm Thanh Hcó 02 tiền án nhưng chưa được xóa án tích nên Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Điểm g Khoản 2 Điều 173Bộ luật Hình sự với tình tiết định khung hình phạt “Tái phạm nguy hiểm” là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Hội đồng xét xử phúc thẩm xét thấy, bị cáo Phạm Thanh Hlà người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáonhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là vi phạm pháp luật, nhưng vì động cơ tư lợicá nhân nên bị cáo đã cố ý lén lút thực hiện hành vi trộm cắp. Hành vi của bị cáo xâm phạm tài sản hợp pháp của người khác, gây bất bình, tạo ra tâm lý hoang mang, lo lắng trong quần chúng nhân dân, gây mất an ninh trật tự tại địa phương và gây nguy hiểm cho xã hội.

Tòa án cấp sơ thẩm sau khi xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội cũng như các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, đã xử phạtbị cáo Phạm Thanh H27 tháng tùlà thỏa đáng, không nặng, đủ để răn đe, giáo dục bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo không cung cấp được tình tiết giảm nhẹ nào mới so với các tình tiết giảm nhẹ mà Tòa án cấp sơ thẩm đã áp dụng, do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo mà giữ nguyên mức án Tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên như đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Thuận là có căn cứ.

Tại đơn kháng cáo ngày 30/9/2021 bị cáo Phạm Thanh H nêu rằng bị cáo đã bồi thường thiệt hại dân sự cho những người mà bị cáo chiếm đoạt tài sản trước đây nhưng Cơ quan Cảnh sát điều tra chứng minh việc bồi thường thiệt hại này là không có căn cứ và việc bồi thường sau thời điểm bị cáo phạm tội.

Tại phiên tòa, bị cáo khai vợ bị cáo bị bệnh tiểu đường, các con còn nhỏ, bị cáo là lao động chính nhưng không có tài liệu để chứng minh nên không có căn cứ theo pháp luật để xem xét cho bị cáo.

[4] Do yêu cầu kháng cáo của bị cáo không được chấp nhận nên bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.

[5] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo và không bị kháng cáo kháng nghị, Tòa án cấp phúc thẩm không xem xét.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1.Căn cứ vào: Điều 345; Điểm a Khoản 1 Điều 355; Điều 356của Bộ luật Tố tụng hình sự;

Không chấp nhậnkháng cáo của bị cáo Phạm Thanh H. Giữ nguyên Bản án hình sự sơ thẩm số 121/2021/HS-ST ngày 24 tháng 9 năm 2021 của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

2.Căn cứ vào: Điểm g Khoản 2 Điều 173, Điểm s Khoản 1 Khoản 2 Điều 51, Khoản 1 Điều 50, Điều 38của Bộ luật Hình sự.

Tuyên bố:Bị cáo Phạm Thanh H phạm tội“Trô ̣m cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Phạm Thanh H27(Hai mươi bảy) tháng tù, hình phạt tù tính từ ngày thi hành án.

3.Án phí hình sự phúc thẩm:

Căn cứ vào: Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm b Khoản 2 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Bị cáo Phạm Thanh Hphải chịu 200.000đồng án phí hình sự phúc thẩm.

4.Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng cáo, kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.

5.Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án 21/4/2022.

Cỡ chữ