- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lưu Thị L - Hoàng Văn T"
- Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lƣu Thị L đƣợc ly hôn anh Hoàng Văn T.
- Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Luật Phí và lệ phí; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH TỈNH HẢI DƢƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2022/HNGĐ-ST Ngày: 30 - 9 - 2022 V/v ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÍ LINH, TỈNH HẢI DƢƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Kim Giang;
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Nguyễn Văn Bạn
2. Bà Trần Thị Hoa
- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Quỳnh Giao - Thƣ ký Toà án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng.
- Đại diện viện kiểm sát nhân dân thành phố Chí Linh tham gia phiên toà: Bà Đỗ Thị Loan - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2022 tại trụ sở, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 130/2022/TLST-HNGĐ ngày 07 tháng 6 năm 2022 về ly hôn, tranh chấp về nuôi con khi ly hôn, theo Quyết định đƣa vụ án ra xét xử số: 36/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 29/8/2022 giữa các đƣơng sự:
1. Nguyên đơn: Chị Lƣu Thị L, sinh năm 1990;
Nơi ĐKHKTT: Khu dân cƣ T, phƣờng T, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng.
Nơi ở hiện nay: Thôn 2, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa; vắng mặt.
2. Bị đơn: Anh Hoàng Văn T, sinh năm 1990;
Địa chỉ: Khu dân cƣ T, phƣờng T, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 26/5/2022, bản tự khai và ý kiến tại các buổi làm việc với Tòa án, chị Lƣu Thị L trình bày:
Chị và anh T đăng ký kết hôn ngày 25/7/2011 tại Ủy ban nhân dân phƣờng T, thị xã C (nay là phƣờng T, thành phố C) trên cơ sở tự nguyện. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà bố mẹ đẻ anh T tại khu dân cƣ T, phƣờng T, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng. Năm 2016, chị đi xuất khẩu lao động tại Đài Loan. Lúc đầu vợ chồng vẫn liên lạc bình thƣờng. Đến năm 2018, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân là do anh T thƣờng hay chơi bời, cờ bạc, không chịu tu chí làm ăn, chăm lo kinh tế gia đình, dẫn đến vợ chồng thƣờng hay bất đồng. Năm 2019, chị về nƣớc, vợ chồng vẫn tiếp tục bất hòa, cuộc sống gia đình ngột ngạt, không có tiếng nói chung. Chị bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở tại thôn 2, xã Y, huyện Y, tỉnh Thanh Hóa, sau đó lại sang Đài Loan lao động. Anh T thì cũng bỏ đi làm ăn xa, không rõ địa chỉ. Vợ chồng sống ly thân từ đó đến nay và không quan tâm đến nhau. Tháng 3/2022, chị hết hạn lao động về nƣớc và vẫn ở nhà bố mẹ đẻ ở Thanh Hóa, thỉnh thoảng có sang nhà bố mẹ chồng thăm con. Anh T biết chị về nƣớc nhƣng không về nhà và cũng không quan tâm, liên lạc với chị. Chị nói chuyện với anh T về việc ly hôn thì anh T nói không lên tòa và mặc kệ chị giải quyết đơn phƣơng. Nay chị xác định vợ chồng không thể đoàn tụ đƣợc nên đề nghị Tòa án giải quyết cho chị đƣợc ly hôn với anh T. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là: Hoàng Thùy D, sinh ngày 07/7/2011 và Hoàng Minh K, sinh ngày 24/01/2015. Hiện tại, cả hai con chung đang ở cùng ông bà nội. Nếu ly hôn quan điểm của chị là đề nghị Tòa án giao cả 02 con chung Hoàng Thùy D và Hoàng Minh K cho chị trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Chị tự nguyện không yêu cầu anh T phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị. Lý do chị đề nghị đƣợc nuôi cả 02 con chung vì: anh T thƣờng hay đi làm xa, thu nhập không ổn định, không đảm bảo thời gian chăm sóc, dạy dỗ các con. Chị hiện tại làm bán hàng nội thất online, thu nhập bình quân khoảng 7.000.000đ - 8.000.000đ/tháng. Chị đủ khả năng để nuôi dƣỡng tốt cho cả 02 con chung. Bố mẹ chị cũng tạo điều kiện về chỗ ở và hỗ trợ về thời gian để chị chăm sóc tốt cho các con. Về quan hệ tài sản chung: Chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Anh Hoàng Văn T đƣợc Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhƣng không đến theo giấy triệu tập. Ngày 09/08/2022, Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh đã phối hợp với khu dân cƣ đến làm việc với anh T. Quá trình làm việc, anh T có trình bày quan điểm là không muốn vợ chồng ly hôn làm ảnh hƣởng đến các con. Anh không trình bày gì thêm và không ký nhận các văn bản tòa án giao và không ký biên bản làm việc.
- Tại bản tự khai ngày 09/8/2022, cháu Hoàng Thùy D trình bày xác định có nguyện vọng muốn ở với mẹ; Cháu Hoàng Minh K trình bày có nguyện vọng muốn ở với bố.
- Bà Nguyễn Thị T - mẹ đẻ anh T trình bày xác định: Năm 2019, anh T bị vỡ nợ, bỏ nhà ra ngoài làm ăn, không rõ ở đâu. Vừa rồi bà bị ốm đi viện thì anh T có về nhà xong lại đi ngay. Mâu thuẫn vợ chồng thế nào bà không nắm đƣợc. Nay chị L xin ly hôn anh T, quan điểm của bà là tùy quyết định của vợ chồng. Về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Hoàng Thùy D, sinh ngày 07/7/2011 và Hoàng Minh K, sinh ngày 24/01/2015. Hai cháu đều do vợ chồng bà nuôi dƣỡng từ nhỏ đến nay. Sau khi anh T bỏ nhà đi làm ăn bên ngoài thì cũng không gửi tiền về. Theo bà, thời điểm hiện tại chỉ có chị L có khả năng nuôi dƣỡng con, còn anh T thì không. Do vậy, bà đề nghị giao cả 02 con cho chị L chăm sóc đến khi con chung đủ 18 tuổi. Trƣờng hợp chị L không nuôi con mà nhờ ông bà nuôi thì phải có trách nhiệm cấp dƣỡng tiền học hành, ăn uống, quần áo, sách vở cho các cháu vì hiện tại vợ chồng ông bà bệnh tật, đau yếu, không đủ khả năng kinh tế để nuôi các cháu đƣợc.
- Ông Phạm Văn P - Trƣởng khu dân cƣ T, phƣờng T trình bày xác định: Mâu thuẫn giữa chị L và anh T thế nào khu dân cƣ không nắm đƣợc. Chỉ biết là anh T bỏ đi làm ăn xa mấy năm nay, gần đây mới về nhà. Chị L cũng đi lao động ở nƣớc ngoài và về nƣớc cách đây mấy tháng. Nay chị L xin ly hôn anh T, quan điểm của khu dân cƣ là đề nghị Tòa án xem xét nguyện vọng của các bên, giải quyết theo quy định của pháp luật. Về con chung: Vợ chồng có 02 con là Hoàng Thùy D và Hoàng Minh K. Các cháu ở với ông bà nội từ nhỏ đến nay. Nếu tòa án giải quyết ly hôn, việc giao con cho ai nuôi, đề nghị xem xét nguyện vọng của các bên để giải quyết.
- Ông Lƣu Vũ T - Bố đẻ chị L xác định: Năm 2018, chị L, anh T xảy ra mâu thuẫn. Chị L đã bỏ về nhà ông bà ở từ đó đến nay. Vợ chồng sống ly thân và không quan tâm đến nhau. Quan điểm của ông là vợ chồng đã trƣởng thành nên việc ly hôn do vợ chồng tự quyết định. Về con chung: Chị L, anh T có 02 con chung là Hoàng Thùy D và Hoàng Minh K. Hiện tại, các cháu đang ở cùng với ông bà nội. Gia đình ông nhà ở rộng rãi. Nếu Tòa án giao con cho chị L nuôi dƣỡng, ông bà sẽ tạo điều kiện về chỗ ăn, ở, sinh hoạt để chị L chăm sóc tốt cho con.
Tại phiên toà:
Chị L vắng mặt có đơn đề nghị tòa án xét xử vắng mặt; Anh T đƣợc triệu tập hợp lệ nhiều lần nhƣng vắng mặt không có lý do.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử kể từ thời điểm thụ lý vụ án đến trƣớc thời điểm Hội đồng xét xử nghị án đã tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án. Nguyên đơn chấp hành đúng các quy định của pháp luật khi tham gia tố tụng. Bị đơn không chấp hành việc triệu tập của Tòa án. Về đƣờng lối giải quyết đề nghị Hội đồng xét xử: Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lƣu Thị L đƣợc ly hôn anh Hoàng Văn T. Về con chung: Xử giao cả 02 con chung là Hoàng Thùy D, sinh ngày 07/7/2011 và Hoàng Minh K, sinh ngày 24/01/2015 cho chị Lƣu Thị L đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn T không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị L. Về án phí: Chị Lƣu Thị L phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đƣợc thẩm tra tại phiên tòa, nghe ý kiến của đƣơng sự và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn đã đƣợc Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đƣa vụ án ra xét xử, quyết định hoãn, giấy triệu tập đến tham gia tố tụng tại phiên tòa. Chị L có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; Anh T đã đƣợc tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhƣng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự xét xử vắng mặt tất cả những ngƣời tham gia tố tụng.
Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết: Anh Hoàng Văn T cƣ trú tại khu dân cƣ T, phƣờng T, thành phố C, tỉnh Hải Dƣơng. Chị Lƣu Thị L khởi kiện xin ly hôn anh T và yêu cầu giải quyết về việc nuôi con chung. Do vậy, đây là vụ án về ly hôn, tranh chấp nuôi con khi ly hôn. Tòa án nhân dân thành phố Chí Linh thụ lý giải quyết vụ án là đúng với thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về quan hệ hôn nhân: Chị L và anh T kết hôn với nhau ngày 25/7/2011 trên cơ sở tự nguyện, đảm bảo các điều kiện kết hôn và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Tân Dân, thị xã Chí Linh (nay là phƣờng Tân Dân, thàn phố Chí Linh). Do vậy, hôn nhân của chị L, anh T là hợp pháp. Năm 2018, vợ chồng đã phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do vợ chồng không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong sinh hoạt, quản lý, chi tiêu kinh tế gia đình. Từ năm 2019, đến nay vợ chồng đã sống ly thân và không quan tâm đến nhau. Tòa án đến làm việc với anh T, triệu tập anh T đến tham gia phiên hòa giải và phiên tòa. Anh T có quan điểm không muốn ly hôn nhƣng không đến tòa án theo giấy triệu tập; thể hiện sự thờ ơ, bỏ mặc tình trạng mâu thuẫn vợ chồng. Hội đồng xét xử thấy r ng việc chị L, anh T không sống chung; không quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện công việc gia đình đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng quy định tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt đƣợc. Do vậy, căn cứ vào khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình, cần chấp nhận yêu cầu của chị L xin ly hôn anh T.
Về con chung: Chị L, anh T có 02 con chung là: Hoàng Thùy D, sinh ngày 07/7/2011 và Hoàng Minh K, sinh ngày 24/01/2015. Hiện tại, cả 02 con chung đều đang ở với bố mẹ đẻ anh T ở khu dân cƣ T, phƣờng T. Xét điều kiện hoàn cảnh của chị L, anh T thì thấy r ng: Anh T hiện tại lao động tự do, nơi làm việc và chỗ ở không ổn định. Quá trình anh T bỏ ra ngoài làm ăn cũng không gửi tiền về chăm lo cho các con; khi làm việc với Tòa án anh T cũng không bày tỏ quan điểm về việc chăm sóc, nuôi dƣỡng con. Bố mẹ đẻ anh T hiện tại sức khỏe yếu, không đủ điều kiện kinh tế để hỗ trợ anh T chăm sóc các cháu. Chị L hiện tại ở cùng bố mẹ đẻ, có chỗ ở và thu nhập và nhận đƣợc sự hỗ trợ của bố mẹ đẻ nếu chăm sóc con. Chị L cũng có nguyện vọng xin đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng cả 02 con. Do vậy, chị L có đủ điều kiện để chăm sóc, nuôi dƣỡng cho các con. Mặc dù cháu Hoàng Thùy D có nguyện vọng muốn ở với mẹ; cháu Hoàng Minh K có nguyện vọng muốn ở với bố, nhƣng xét điều kiện, hoàn cảnh hiện tại, nguyện vọng của các bên, Hội đồng xét xử thấy cần căn cứ Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình, chấp nhận yêu cầu của chị L, giao cả 02 con chung Hoàng Thùy D, sinh ngày 07/7/2011 và Hoàng Minh K, sinh ngày 24/01/2015 cho chị L trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của các con chung. Chị L không yêu cầu anh T phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị, đây là ý kiến tự nguyện của chị L, không trái pháp luật và đạo đức xã hội nên đƣợc chấp nhận. Anh T không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai đƣợc cản trở.
Về quan hệ tài sản: Chị L, anh T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra việc xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị L là nguyên đơn nên phải chịu án phí dân sự sơ thẩm ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 56, Điều 81, Điều 82, Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình; khoản 4 Điều 147, khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng Dân sự; Luật phí và lệ phí; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Lƣu Thị L đƣợc ly hôn anh Hoàng Văn T.
2. Về con chung: Xử giao cả 02 con chung là Hoàng Thùy D, sinh ngày 07/7/2011 và Hoàng Minh K, sinh ngày 24/01/2015 cho chị Lƣu Thị L đƣợc trực tiếp nuôi dƣỡng đến khi con chung đủ 18 tuổi. Anh Hoàng Văn T không phải cấp dƣỡng nuôi con chung với chị L.
Anh T có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà không ai đƣợc cản trở anh T thực hiện quyền này.
3. Về án phí: Chị Lƣu Thị L phải nộp 300.000đ án phí dân sự sơ thẩm ly hôn, đƣợc đối trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ mà chị L đã nộp theo biên lai thu số: AA/2020/0003027 ngày 07/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Chí Linh, tỉnh Hải Dƣơng. Chị L đã nộp đủ án phí.
4. Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận đƣợc bản án hoặc ngày bản án đƣợc niêm yết.
Trƣờng hợp quyết định đƣợc thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì ngƣời đƣợc thi hành án, ngƣời phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cƣỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu yêu cầu thi hành án đƣợc thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
| Nơi nhận: - VKSND thành phố Chí Linh; - Chi cục THADS thành phố Chí Linh; - UBND phƣờng T (Để ghi sổ hộ tịch); - Các đƣơng sự; - Lƣu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà Nguyễn Kim Giang |