vanban.org

Bản án 40/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Đ.

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Đ được ly hôn với anh Lê Văn S. Về con chung: Giao con Lê Trần Phương U, sinh ngày 24/01/2015 cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Trần Thị Đợi - Lê Văn Sơn"
  • Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TUY AN
TỈNH PHÚ YÊN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 15/6/2022
V/v “Tranh chấp ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TUY AN - TỈNH PHÚ YÊN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Thanh Phong

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Sáu và ông Võ Kỳ Tùng

- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Hà– Thư ký Tòa án nhân dân huyện Tuy An, tỉnh Phú Yên.

Ngày 15 tháng 6 năm 2022, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tuy An mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 28/2022/TLST–HNGĐ ngày 08 tháng 3 năm 2022, về việc: “Xin ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 45/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Đ, sinh 1984. Xin xét xử vắng mặt

Địa chỉ: thôn N, xã An , huyện T, tỉnh Phú Yên.

-Bị đơn: Anh Lê Văn S, sinh năm 1987. Xin xét xử vắng mặt

Địa chỉ: Thôn T, xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn chị Trần Thị Đ trình bày: Chị và anh Lê Văn S tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 14/7/2014 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên. Sau khi kết hôn chung sống với nhau thường phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do bất đồng trong quan điểm sống, anh S không còn quan tâm đến gia đình, vợ con. Nay tình trạng hôn nhân lâm vào trầm trọng, tình cảm không còn, hôn nhân không hạnh phúc, chị xin ly hôn với anh S.

Về con chung: Lê Trần Phương U, sinh ngày 24/01/2015, hiện do chị trực tiếp nuôi dưỡng. Ly hôn chị xin nuôi cháu U và không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Tự thỏa thuận, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Tại Bản trình bày và xin xét xử vắng mặt, bị đơn anh Trần Văn S trình bày: Thống nhất về quan hệ hôn nhân, con chung, tài sản chung như chị Đ trình bày. Về hôn nhân vợ chồng có bất đồng quan điểm sống và không sống chung một năm nay. Nay chị Đ xin ly hôn, anh đồng ý. Về con chung anh S xin được nuôi cháu U không yêu cầu chị Đ cấp dưỡng nuôi con. Về tài sản chung: không yêu cầu giải quyết.

Tòa án đã tiến hành hòa giải nhưng không hòa giải được do vắng mặt bị đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn, bị đơn xin xét xử vắng mặt. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, Tòa án tiếp tục xét xử vụ án.

Về quan hệ hôn nhân: Chị Trần Thị Đ và anh Lê Văn S tự nguyện tìm hiểu và đăng ký kết hôn ngày 14/7/2014 tại Ủy ban nhân dân xã A, huyện T, tỉnh Phú Yên, đây là hôn nhân hợp pháp. Qúa trình sống chung với nhau các bên có mâu thuẫn và hiện đã không sống chung với nhau, được các bên thừa nhận. Như vậy, mâu thuẫn của vợ chồng là không thể khắc phục, tình trạng hôn nhân lâm vào trầm trọng, đời sống chung không thể tiếp tục kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Căn cứ quy định tại Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn chị Đ được ly hôn với bị đơn anh S.

Về con chung: Lê Trần Phương U, sinh ngày 24/01/2015. Thấy rằng, cháu U hiện do chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, đã trên bảy tuổi và có nguyện vọng được ở cùng với chị Đ. Để không làm sáo trộn cuộc sống và đảm bảo cho sự phát triển tốt về thể chất và tinh thần cho cháu U, cần giao cháu U cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, chị Đ tự nguyện không yêu cầu anh S cấp dưỡng nuôi con, xét đây là sự tự nguyện nên ghi nhận.

Về tài sản chung: Không yêu cầu, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điều 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147, 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Trần Thị Đ.

Về hôn nhân: Chị Trần Thị Đ được ly hôn với anh Lê Văn S.

Về con chung: Giao con Lê Trần Phương U, sinh ngày 24/01/2015 cho chị Đ trực tiếp nuôi dưỡng, anh S không phải cấp dưỡng nuôi con. Bên không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung: Không giải quyết.

Về án phí: Chị Trần Thị Đ phải chịu 300.000 đồng án phí Hôn nhân gia đình sơ thẩm, đã nộp đủ tại Biên lai thu tiền số 0003732 ngày 08/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tuy An.

Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án./.

Cỡ chữ