- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "ly hon"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Dương Thị Hồng N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP TỈNH KIÊN GIANG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2022/HNGĐ-ST Ngày: 19/5/2022 V/v “Tranh chấp Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TÂN HIỆP, TỈNH KIÊN GIANG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Thị Thu Trang
- Bà Phan Thị Trúc Phương
- Thư ký phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Cẩm Ni, thư ký Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang: Không tham gia phiên toà.
Trong ngày 19 tháng 5 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang. Xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 207/2021/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 12 năm 2021 về việc “Tranh chấp ly hôn”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 20/2022/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 04 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 18/2022/QĐST-HNGĐ ngày 25 tháng 4 năm 2022 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Dƣơng Thị Hồng N, sinh năm: 1988 (Có mặt)
Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
- Bị đơn: Anh Lê C, sinh năm 1986 (Vắng mặt)
Địa chỉ: Ấp Đ, xã T, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, Phiên họp kiểm tra việc, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nguyên đơn chị Dương Thị Hồng N trình bày: Chị và anh Lê C chung sống với nhau vào năm 2008, có đăng ký kết hôn vào ngày 11/09/2009 tại UBND xã P , thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang trước khi chung sống vợ chồng có tìm hiểu nhau trước 1 năm, hôn nhân tự nguyện không cưỡng ép.
Thời gian đầu vợ chồng hạnh phúc cho đến những năm gần đây thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do anh C thường xuyên tu tập bạn bè ăn chơi, lười lao động không lo kiếm tiền để phụ giúp kinh tế gia đình. Chị đã nhiều lần khuyên can nhưng anh C vẫn không thay đổi mà anh C còn có thái độ đe dọa đòi đốt nhà, giết vợ con và cải vả với cả gia đình bên vợ. Từ đó, giữa vợ chồng luôn bất đồng quan điểm, tình cảm vợ chồng ngày càng rạng nứt đến mức không khả năng hàn gắn, nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 5/2021 cho đến nay. Nay chị cảm thấy tình cảm vợ chồng không còn, không thể tiếp tục chung sống với nhau được nữa, mục đích hôn nhân không đạt được.
- Về con chung: Quá trình chung sống vợ chồng có 01 con chung tên Lê Nhã Kỳ D, sinh ngày 29/11/2008. Hiện nay cháu D đang sống với chị và cháu có nguyện vọng được sống chung với mẹ sau khi vợ chồng ly hôn.
- Về tài sản chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có tài sản chung.
- Về nợ chung: Quá trình chung sống vợ chồng không có nợ chung.
Nay chị Dương Thị Hồng N yêu cầu Tòa án giải quyết:
- Về quan hệ hôn nhân: Chị yêu cầu được ly hôn với anh Lê C.
- Về con chung: Chị yêu cầu được trực tiếp chăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Lê Nhã Kỳ D, sinh ngày 29/11/2008. Chị không yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
- Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với bị đơn anh Lê C: Quá trình giải quyết vụ án từ khi thụ lý vụ án, Tòa án tiến hành tống đạt hợp lệ giấy triệu tập cho anh Lê C tham gia phiên họp kiểm tra việc, giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập tham gia phiên tòa, nhưng anh C đều không có mặt và không có lời trình bày.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: Đây là tranh chấp ly hôn, bị đơn anh Lê C đang cư trú tại Ấp Đ , xã T, huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.Theo quy định tại khoản 1 Điều 28; Điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về thủ tục tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay anh Lê Chánh mặc dù được Tòa án triệu tập hợp lệ lần hai để tham gia phiên tòa nhưng vắng mặt không có lý do, phía chị N đồng ý xét xử vắng mặt anh C. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt anh Chánh.
Về quan hệ hôn nhân: Xét mối quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh C là hôn nhân hợp pháp, vì anh chị chung sống với nhau vào năm 2008 và có đăng ký kết hôn tại tại UBND xã P, thành phố Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang theo đúng quy định của pháp luật, phù hợp với Điều 9 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.
Xét yêu cầu xin được ly hôn của chị N là có cơ sở chấp nhận. Bởi lẽ, vợ chồng anh chị chung sống với nhau thời gian đầu hạnh phúc, thời gian sau thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn là do chị N cho rằng anh C thường xuyên tu tập bạn bè ăn chơi, lười lao động không lo kiếm tiền để phụ giúp kinh tế gia đình. Chị đã nhiều lần khuyên can nhưng anh C vẫn không thay đổi mà anh C còn có thái độ đe dọa vợ con và cải vả với cả gia đình bên vợ. Từ đó, giữa vợ chồng luôn bất đồng quan điểm, tình cảm vợ chồng ngày càng rạng nứt đến mức không khả năng hàn gắn, nên vợ chồng đã ly thân từ tháng 5/2021 cho đến nay. Trong suốt quá trình giải quyết vụ án chị N xác định tình cảm giữa chị và anh C không còn, vợ chồng không thể tiếp tục kéo dài hôn nhân nên chị cương quyết ly hôn với anh C.
Hội đồng xét xử xét thấy, trong thời gian ly thân vợ chồng anh C, chị N không ai quan tâm đến ai, không chăm sóc, giúp đỡ nhau, không thể hiện được tình nghĩa vợ chồng được quy định tại Điều 19 Luật hôn nhân gia đình “ Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau;…. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau,….”, điều này chứng tỏ hôn nhân giữa anh, chị đã lâm vào tình trạng trầm trọng không khả năng hàn gắn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được.
Quá trình giải quyết vụ án Tòa án tiến hành tống đạt họp lệ cho anh C tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, cũng như triệu tập anh C tham gia phiên tòa nhưng anh C đều vắng mặt không có lý do. Điều này chứng tỏ rằng anh C không có thiện chí muốn hòa giải để trở về tiếp tục cuộc sống vợ chồng. Do đó, Hội đồng xét xử thống nhất chấp nhận yêu cầu xin được ly hôn của chị N.
Về con chung: Xét yêu cầu xin nuôi con của chị Dương Thị Hồng N. Hội đồng sơ thẩm xét thấy, cháu Lê Nhã Kỳ D, sinh ngày 29/11/2008 vẫn luôn sống chung với chị N kể từ ngày vợ chồng chị N, anh C ly thân cho đến nay, hơn nữa cháu D là con gái rất cần sự quan tâm, chăm sóc, giáo dục từ người mẹ. Tại Biên bản ghi nhận nguyện vọng ngày 03/01/2022 cháu D đề đạt nguyện vọng được sống chung với mẹ sau khi vợ chồng anh C, chị N ly hôn. Do đó, để đảm bảo điều kiện cho cháu D được phát triển tốt cả về vật chất lẫn tinh thần nên Hồi đồng xét xử thống nhất giao cháu Lê Nhã Kỳ D cho chị Ntrực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục là hoàn toàn phù hợp pháp luật và phù hợp với nguyện vọng của cháu D.
Về cấp dưỡng, chị N không có yêu cầu anh C cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về tài sản chung, nợ chung: Chị N xác định không có, không yêu cầu giải quyết.
Từ những nhận định nêu trên, trong thảo luận và nghị án, Hội đồng xét xử thống nhất áp dụng Điều 56, các điều 81, 82, 83 và 84 Luật Hôn nhân và Gia đình chấp nhận yêu cầu của chị Dương Thị Hồng N.
Về quan hệ hôn nhân: Chị N được ly hôn với anh C.
Về quan hệ con chung: Giao cháu Lê Nhã Kỳ D, sinh ngày 29/11/2008 cho chị Dương Thị Hồng N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Lê C không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Lê C được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.
Về tài sản chung: không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Chị Dương Thị Hồng N phải chịu 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) án phí hôn nhân sơ thẩm.
Quyền kháng cáo: Các đương sự có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 và Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng Điều 56, Điều 81, 82, 83 và 84 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;
- Áp dụng điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án.
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Dương Thị Hồng N.
1. Về quan hệ hôn nhân: Cho chị Dương Thị Hồng N được ly hôn với anh Lê C.
2. Về quan hệ con chung: Giao cháu Lê Nhã Kỳ D, sinh ngày 29/11/2008 cho chị Dương Thị Hồng N trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục. Anh Lê C không phải cấp dưỡng nuôi con.
Anh Lê C được quyền tới lui, thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung, không ai có quyền ngăn cản.
3. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết, nên Tòa không xem xét.
4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Dương Thị Hồng N phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được khấu trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0006166 ngày 01/12/2021 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Tân Hiệp, tỉnh Kiên Giang.
5. Quyền kháng cáo: Chị Dương Thị Hồng N, có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Đối với anh Lê C có quyền kháng cáo trong hạn luật định là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./. Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án ND tỉnh Kiên Giang;
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Tân Hiệp; -THA dân sự huyện Tân Hiệp;
- UBND xã Phi Thông;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án ND tỉnh Kiên Giang;
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Tân Hiệp; -THA dân sự huyện Tân Hiệp;
- UBND xã Tân Hiệp A;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Từ Tứ Hải
Phan Thị Trúc Phƣơng
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án ND tỉnh Kiên Giang;
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Tân Hiệp; -THA dân sự huyện Tân Hiệp;
- UBND xã Thạnh Trị;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Văn Thành Nhiều Phan Minh Sơn
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án ND tỉnh Kiên Giang;
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Tân Hiệp; -THA dân sự huyện Tân Hiệp;
- UBND xã Thạnh Trị;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt Nơi nhận:
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Tòa án ND tỉnh Kiên Giang;
THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
- VKSND huyện Tân Hiệp; -THA dân sự huyện Tân Hiệp;
- UBND xã Thạnh Trị;
- Các đương sự;
- Lưu hồ sơ.
Nguyễn Thị Ánh Nguyệt
| Nơi nhận: - Tòa án ND tỉnh Kiên Giang; - VKSND huyện Tân Hiệp; -THA dân sự huyện Tân Hiệp; - UBND xã Thạnh Đông A; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Danh Vũ |