vanban.org

Bản án 40/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Hồng Y về việc xin ly hôn và nuôi con chung với anh Nguyễn Văn D.

Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Hồng Y với anh Nguyễn Văn D. Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Hữu Kh – sinh năm 2012 cho chị Lê Thị Hồng Y trực tiếp chăm sóc, nuôi Dỡng đến trưởng thành. Anh Nguyễn Văn D không phải cấp Dỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con c… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp giữa chị yến và anh dư"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Hồng Y về việc xin ly hôn và nuôi con chung với anh Nguyễn Văn D.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CỜ ĐỎ
THÀNH PHỐ CẦN THƠ

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2022/HNGĐ-ST
Ngày: 28- 6 -2022
“V/v tranh chấp ly hôn
giữa chị Y và anh D”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CỜ ĐỎ THÀNH PHỐ CẦN THƠ

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đăng Khoa

Các Hội Thẩm nhân dân: 1/ Ông Phạm Hồng Lưu

2/ Ông Nguyễn Hữu Thọ

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Giai Thoại – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

Trong ngày ngày 28 tháng 6 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 72/2022/TLST-HNGĐ, ngày 15 tháng 4 năm 2022 về tranh chấp: “Ly hôn và tranh chấp quyền nuôi con chung”.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số: 96/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 20 tháng 5 năm 2022, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Lê Thị Hồng Y, sinh năm 1986 (xin vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp Y, xã Phước Lợi, huyện Bến Lức, tỉnh Long An.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Văn D, sinh năm 1983 (vắng mặt)

Địa chỉ: Ấp T2, xã Trung Hưng, huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

1. Theo đơn khởi kiện, bản tự khai nguyên chị Lê Thị Hồng Y trình bày:

- Về hôn nhân: Chị Lê Thị Hồng Y và anh Nguyễn Văn D tự nguyện tiến tới hôn nhân vào năm 2010, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Phước Lợi, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại nhà cha mẹ vợ thuộc Ấp Y, xã Phước Lợi, huyện Bến Lức, tỉnh Long An. Quá trình chung sống hôn nhân không hạnh phúc, nguyên nhân do anh D không lo làm ăn mà tụ tập bạn bè ăn chơi, không quan tâm chăm lo cuộc sống gia đình, nhiều lần chị Y khuyên chồng vì con cái, gia đình lo làm ăn nhưng bản thân anh D vẫn không thay đổi dẫn đến hôn nhân ngày càng mâu thuẫn trầm trọng. Kể từ năm 2013 cho đến nay vợ chồng không còn chung sống với nhau, cả hai không còn liên quan gì về tình cảm và kinh tế gia đình. Nay nhận thấy không thể kéo dài quan hệ hôn nhân nên đề nghị Tòa án xem xét cho ly hôn với anh Nguyễn Văn D.

- Về nuôi con chung: Quá trình chung sống giữa chị Lê Thị Hồng Y và anh Nguyễn Văn D có 01 con chung tên Nguyễn Hữu Kh – sinh năm 2012. Hiện con chung đang được chị Y chăm sóc, nuôi Dỡng, sau khi ly hôn chị Y có nguyện vọng được tiếp tục nuôi Dỡng các con chung đến trưởng thành. Chị Y không yêu cầu anh D cấp Dỡng nuôi con chung.

- Về chia tài sản chung: Quá trình vợ chồng chung sống không tạo lập được tài sản chung nên không yêu cầu Toà án xem xét chia tài sản chung vợ chồng.

- Về nghĩa vụ chung: Không có, nên không yêu cầu Toà án xem xét giải quyết.

2. Bị đơn anh Nguyễn Văn D: Được toà án triệu tập hợp lệ tham gia các phiên hoà giải, phiên họp công khai chứng cứ và tham gia phiên toà nhưng vắng mặt không có lý do.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Về Tố tụng:

Chị Lê Thị Hồng Y khởi kiện yêu cầu được ly hôn với với anh Nguyễn Văn D và xin được quyền nuôi con chung, xét đây là quan hệ pháp luật hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo quy định tại Điều 28, Điều 35 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Anh Nguyễn Văn D là bị đơn được Tòa án triệu tập hợp lệ tham gia phiên Tòa nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ vào Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt anh Nguyễn Văn D. Chị Lê Thị Hồng Y là nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, được Tòa án chấp nhận. Căn cứ vào Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt chị Y.

Xét về quan hệ hôn nhân: Hôn nhân giữa chị Lê Thị Hồng Y và anh Nguyễn Văn D có đăng ký kết hôn theo quy định tại Điều 9 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014, nên quan hệ hôn nhân này là hợp pháp, khi phát sinh tranh chấp Toà án xem xét giải quyết theo thủ tục chung.

Xét nguyên nhân mâu thuẫn trong quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Hồng Y và anh Nguyễn Văn D theo trình bày của chị Y do anh D không quan tâm chăm sóc gia đình, mà chỉ biết tụ tập bạn bè ăn chơi, vợ chồng không có sự đồng cảm trong cuộc sống gia đình từ đó đời sống hôn nhân không hạnh phúc. Chị Lê Thị Hồng Y hiện không còn tình cảm với anh D và kiên quyết đề nghị Tòa xem xét cho ly hôn. Xét quan hệ hôn nhân giữa chị Lê Thị Hồng Y và anh Nguyễn Văn D đã rạn nứt không thể hàn gắn nên Hội đồng xét xử chấp nhận cho chị Lê Thị Hồng Y được ly hôn với anh Nguyễn Văn D.

Về nuôi con chung: Xét con chung tên Nguyễn Hữu Kh là con chung của chị Y và anh D, hiện con chung đang được chị Y chăm sóc, nuôi Dỡng và cháu Kh cũng có nguyện vọng được tiếp tục sống với chị Y. Xét đề nghị của chị Y là chính đáng nên Hội đồng xét xử tiếp tục giao quyền nuôi Dỡng, chăm sóc và giáo dục con chung cho chị Y thực hiện đến khi cháu Nguyễn Hữu Kh đến tuổi trưởng thành.

Về nghĩa vụ cấp Dỡng nuôi con chung: Do chị Lê Thị Hồng Y không yêu cầu Tòa án xem xét buộc anh Nguyễn Văn D phải cấp Dỡng nuôi con chung nên Tòa án không xem xét.

Về quyền chăm sóc giáo dục con chung: Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho anh Nguyễn Văn D theo quy định của pháp luật, không ai được ngăn cản. Trường hợp quyền và lợi ích hợp pháp của con chung bị xâm hại, đương sự có quyền yêu cầu Toà án hạn chế quyền thăm nom, chăm sóc con chung hoặc thay đổi người trực tiếp nuôi con chung; yêu cầu người có nghĩa vụ phải cấp Dỡng nuôi con chung theo quy định của pháp luật.

Về chia tài sản chung: Do đương sự không yêu cầu, nên Toà án không xem xét về tài sản chung.

Về nợ chung: Đương sự khai không có, nên Toà án không xem xét.

Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Lê Thị Hồng Y phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28; Điều 35; Điều 227; Điều 228 và Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào các Điều 9; Điều 51; Điều 53; Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014 có hiệu lực 01.01.2015;

Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về việc án phí, lệ phí.

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Lê Thị Hồng Y về việc xin ly hôn và nuôi con chung với anh Nguyễn Văn D.

- Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lê Thị Hồng Y với anh Nguyễn Văn D.

- Về nuôi con chung: Giao con chung Nguyễn Hữu Kh – sinh năm 2012 cho chị Lê Thị Hồng Y trực tiếp chăm sóc, nuôi Dỡng đến trưởng thành. Anh Nguyễn Văn D không phải cấp Dỡng nuôi con chung. Dành quyền thăm nom, chăm sóc giáo dục con chung cho anh D theo quy định của pháp luật, không ai được quyền ngăn cản. Trong trường hợp có yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức được quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định việc thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

- Về chia tài sản chung: Đương sự không yêu cầu, Toà án không xem xét.

- Về nợ chung: Đương sự khai không có, Toà án không xem xét.

3. Về án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Lê Thị Hồng Y phải nộp số tiền 300.000 đồng, được khấu trừ tạm ứng án phí 300.000 đồng theo biên lai thu số 0009274 ngày 15/4/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Cờ Đỏ, thành phố Cần Thơ. Chị Lê Thị Hồng Y đã thực hiện xong.

4. Tuyên án công khai đương sự có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án để yêu cầu Tòa án nhân dân Thành Phố Cần Thơ xét xử phúc thẩm theo quy định của pháp luật Tố tụng dân sự. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kề từ ngày bản án được tống đạt hay niêm yết hợp lệ theo quy định của pháp luật.

5. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại điều 2 luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại điều 6, 7 và điều 9 luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 luật Thi hành án dân sự./.

Cỡ chữ