vanban.org

Bản án 40/2022/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đức H được ly hôn anh Nguyễn Đắc H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 81/2010, quyển số I/2010, ngày 21/10/2010 do Ủy ban n H dân xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi cấp cho Chị Nguyễn Thị Đức H và anh Nguyễn Đắc H không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Bảo H, sinh ngày 16 tháng … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đức H được ly hôn anh Nguyễn Đắc H.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 56 Luật hôn nhânvà gia đình
TÒA ÁN N H DÂN
HUYỆN BÌNH SƠN
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2022/HNGĐ-ST
Ngày 20/8/2022
V/v: Ly hôn, tranh chấp về nuôi
con

N H DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN N H DÂN HUYỆN BÌNH SƠN, TỈNH QUẢNG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Kiều Trung

Các hội thẩm n H dân:

1. Bà Phạm Thị Thuận

2. Ông Bùi Tấn Sinh

- Thư ký phiên tòa: Ông Trương Quang Bình - Thư ký Tòa án n H dân huyện Bình Sơn.

- Đại diện Viện kiểm sát n H n H huyện Bình Sơn tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Quý - Kiểm sát viên.

Trong ngày 20 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án n H dân huyện Bình Sơn, tỉnh Quảng Ngãi xét xử công khai vụ án dân sự sơ thẩm thụ lý số 124/2022/TLST-HNGĐ ngày 14 tháng 3 năm 2022, về việc: “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 105/2022/QĐXXST-HNGĐ, ngày 01 tháng 8 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 34/2022/QĐST-HNGĐ, ngày 13 tháng 8 năm 2022, giữa:

1. Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị Đức H, sinh năm 1990; cư trú tại: Thôn A, xã N, huyện T, tỉnh Quảng Ngãi, có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt.

2. Bị đơn: Anh Nguyễn Đắc H, sinh năm 1989; cư trú tại: Đội X, thôn Đ, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

[ Theo đơn khởi kiện, lời trình bày tại bản tự khai và tại các buổi làm việc, nguyên đơn trình bày như sau:

Về quan hệ hôn n H: Chị và anh Nguyễn Đắc H tự nguyện tìm hiểu, được hai bên gia đình tổ chức lễ cưới và anh chị có đăng ký kết hôn tại UBND xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi theo giấy chứng nhận kết hôn số 81/2010, quyển số 01/2010, ngày 21/10/2010.

Nguyên n H dẫn đến mâu thuẫn giữa vợ chồng là do tính tình không hợp, anh H cờ bạc, không có trách nhiệm với con cái, có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác. Từ năm 2011 đến nay, vợ chồng không sống chung, không quan tâm, liên lạc với nhau. Mặc dù đã được gia đình hai bên động viên, khuyên giải nhưng anh chị không khắc phục được mâu thuẫn, không cải thiện được tình trạng hôn nhânvà không đoàn tụ sống chung được. Vì giữa vợ chồng xảy ra nhiều mâu thuẫn, không còn sống chung trong thời gian dài, hôn nhânkhông có hạnh phúc và cũng không thể đoàn tụ được nên chị yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với anh Nguyễn Đắc H.

Về con chung: Giữa chị và anh H có một con chung tên là Nguyễn Ngọc Bảo H, sinh ngày 16/4/2011, hiện chị đang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Khi ly hôn, chị yêu cầu được tiếp tục chăm sóc, nuôi dưỡng con chung; chị không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với bị đơn là anh Nguyễn Đắc H có nơi cư trú tại: Đội X, thôn Đ, xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, đã được Tòa án tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng và nhiều lần triệu tập nhưng anh không đến Tòa án làm việc, cũng không trình bày ý kiến của mình.

Ý kiến phát biểu của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa:

- Việc tuân thủ pháp luật tố tụng: Những người tiến hành tố tụng, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Đối với bị đơn đã được Tòa án tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên nhưng bị đơn không đến tham gia phiên tòa là không chấp hành các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

- Về quan điểm giải quyết vụ án: Xét thấy giữa chị H và anh H xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không còn sống chung với nhau trong thời gian dài, không còn khả năng đoàn tụ, vi phạm các quy định về quyền và nghĩa vụ của vợ chồng, căn cứ vào Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.

+ Về con chung: Xét thấy yêu cầu nuôi con chung của chị Hlà có căn cứ, phù hợp với điều kiện thực tế và nguyện vọng của con chung chưa thành niên, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhânvà gia đình, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị H.

+ Buộc nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhânsơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về thủ tục tố tụng: Nguyên đơn có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt là phù hợp với quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Đối với bị đơn, trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án tống đạt Thông báo về việc thụ lý vụ án, các văn bản tố tụng và đã được tống đạt Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng tại phiên tòa hôm nay, bị đơn vắng mặt lần thứ hai không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt các đương sự.

Về quan hệ hôn nhân: Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 81/2010, quyển số I/2010, ngày 21/10/2010 của Ủy ban n H dân xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi, kết quả xác minh tình trạng hôn nhânvà trình bày của chị H, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở xác định chị H và anh H xác lập quan hệ hôn nhântrên cơ sở tự nguyện, tuân thủ đúng quy định về điều kiện kết hôn, đăng ký kết hôn tại các Điều 8, 9 của Luật hôn nhânvà gia đình nên hôn nhângiữa anh chị là hợp pháp và được pháp luật công nhận.

chị H cho rằng giữa chị và anh H xảy ra nhiều mâu thuẫn, nguyên n H là do anh H cờ bạc, không có trách nhiệm với con cái, có quan hệ tình cảm với người phụ nữ khác; mâu thuẫn vợ chồng đã được gia đình hai bên hòa giải, động viên nhưng anh chị không cải thiện tình trạng hôn n H. Từ năm 2011 đến nay, vợ chồng không còn sống chung, không còn quan tâm, không liên lạc với nhau.

Anh Nguyễn Đắc H không có ý kiến trình bày hay phản đối các tình tiết, sự kiện mà chị Hđã nêu về nguyên n H phát sinh mâu thuẫn giữa vợ chồng cũng như các vấn đề khác nên theo quy định tại Điều 91 và Điều 92 của Bộ luật Tố tụng dân sự thì các tình tiết, sự kiện mà chị H đưa ra không phải chứng minh. Ngoài ra, anh H đã được tống đạt các văn bản tố tụng nhưng anh không trình bày ý kiến cũng như không đến Tòa án để tham gia hòa giải thể hiện anh không quan tâm, không có thiện chí hòa giải mâu thuẫn để vợ chồng đoàn tụ.

Qua kết quả làm việc với gia đình anh H và xác minh tại chính quyền địa phương thì thấy rằng giữa chị H và anh H có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng không còn sống chung từ năm 2011 đến nay nên việc chị H yêu cầu ly hôn anh H là có căn cứ, phù hơp với tình trạng hôn nhânthực tế và quy định của pháp luật. Căn cứ vào Điều 56 của Luật hôn nhânvà gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị H.

Về con chung: Hội đồng xét xử thấy rằng hiện chị Hđang trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung, qua làm việc với cháu H thì cháu có nguyện vọng được tiếp tục ở với mẹ; trong khi đó, anh H không trình bày ý kiến của mình đối với yêu cầu nuôi con của chị H. Do đó, căn cứ vào khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhânvà gia đình, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu nuôi con chung của chị H; giao cháu Nguyễn Ngọc Bảo H cho chị H trực tiếp trong nôm, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Việc cấp dưỡng nuôi con: chị H không yêu cầu nên không xét.

Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét.

Án phí: Chị Nguyễn Thị Đức H phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm với số tiền là 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu trừ số tiền chị đã nộp tạm ứng án phí.

Đối với quan điểm giải quyết vụ án của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp với nhận định nêu trên của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 58, khoản 2 Điều 81, 82, 83 và Điều 84 Luật hôn nhânvà gia đình năm 2014;

- Căn cứ các Điều 28, 35, 39, khoản 4 Điều 147, 227, 228, 235, 264, 266, 267, 273 và Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của UBTVQH quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Nguyễn Thị Đức H được ly hôn anh Nguyễn Đắc H.

Giấy chứng nhận kết hôn số 81/2010, quyển số I/2010, ngày 21/10/2010 do Ủy ban n H dân xã B, huyện S, tỉnh Quảng Ngãi cấp cho Chị Nguyễn Thị Đức H và anh Nguyễn Đắc H không còn giá trị pháp lý kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật.

2. Về con chung: Giao cháu Nguyễn Ngọc Bảo H, sinh ngày 16 tháng 4 năm 2011 cho Chị Nguyễn Thị Đức H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục.

Người không trực tiếp nuôi con được quyền thăm nom con chung không ai được quyền cản trở, nhưng không được lạm dụng quyền thăm nom con chung. Trong trường hợp người không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

Người trực tiếp nuôi con cùng các thành viên trong gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con. Việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con sau khi ly hôn được thực hiện theo quy định tại Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 và các quy định khác của pháp luật.

3. Về cấp dưỡng nuôi con: Không yêu cầu nên không xét.

4. Về tài sản chung và nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên không xét.

5. Án phí hôn nhân sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị Đức H phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) nhưng được khấu số tiền chị đã nộp tạm ứng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0001545, ngày 14/3/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Sơn.

6. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và Điều 9 Luật Thi hành án dân sự năm 2008 sửa đổi, bổ sung năm 2014, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

7. Án xử công khai, vắng mặt nguyên đơn và bị đơn. Thời hạn kháng cáo 15 ngày kể từ ngày nguyên đơn và bị đơn nhận được bản án sơ thẩm hoặc bản án được niêm yết công khai tại trụ sở UBND xã nơi cư trú. Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND tỉnh Quảng Ngãi;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND huyện Bình Sơn;

- Chi cục THADS huyện Bình Sơn;

(đã ký)

- UBND xã B;

- Những người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ, án văn.

Đoàn Kiều Trung

CÁC THÀNH VIÊN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Bùi Tấn Sinh

Phạm Thị Thuận

Đoàn Kiều Trung

Cỡ chữ