vanban.org

Bản án 40/2022/DS-ST — Tranh chấp hợp đồng vay tài sản

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn H đối với anh Phạm Văn Đ.

Buộc anh Phạm Văn Đ có trách nhiệm trả cho anh Nguyễn Văn H số tiền vay còn nợ gốc và lãi là 16.657.000đ (Mười sáu triệu, sáu trăm năm mươi bảy ngàn đồng). Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phả… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng vay tài sản — án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng vay tài sản"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn H đối với anh Phạm Văn Đ.
  • Căn cứ chính? Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TAM NÔNG
TỈNH ĐỒNG THÁP

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2022/DS-ST
Ngày: 31-8-2022.
V/v Tranh chấp hợp đồng dân sự
về vay tài sản

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TAM NÔNG, TỈNH ĐỒNG THÁP

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Kim Doãn

- Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hùng Cường

2. Bà Đặng Thị Nguyên Hồng

- Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Văn Đục là Thư ký Toà án nhân dân huyện Tam Nông, tỉnh Đồng Tháp.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông tham gia phiên tòa: Bà Đàm Thị Mỏl - Kiểm sát viên.

Vào ngày 31 tháng 8 năm 2022 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tam Nông xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 204/2022/TLST- DS ngày 15 tháng 6 năm 2022 về việc “ Tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tài sản ”.

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 53/2022/QĐXXST-DS, ngày 01 tháng 8 năm 2022. Theo Quyết định hoãn phiên tòa số: 36/2022/QĐST-DS ngày 17 tháng 8 năm 2022. Giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Nguyễn Văn H, sinh năm 1983

Địa chỉ: khóm Y, thị trấn T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

2. Bị đơn: Phạm Văn Đ, sinh năm 1991.

Địa chỉ: ấp K, xã P , huyện T, tỉnh Đồng Tháp.

Nguyên đơn anh Nguyễn Văn H có mặt tại phiên tòa. Bị đơn anh Phạm Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN

- Nguyên đơn anh Nguyễn Văn H trình bày:

Vào ngày 04/3/2022 anh Phạm Văn Đ có vay của tôi số tiền gốc là 8.000.000đ, hai bên thỏa thuận lãi suất là 1,67%/tháng, khi vay anh Đ có làm hợp đồng mượn tiền cho tôi (hợp đồng ngày 04/3/2022). Anh Đ hẹn đến ngày 04/5/2022 sẻ trả gốc và lãi. Đến hẹn anh Đ chỉ trả được số tiền gốc 3.458.000đ còn lại 4.542.000đ. Đến ngày 19/3/2022 anh Đ vay tiếp của tôi số tiền gốc là 16.000.000đ (anh Đ có làm hợp đồng vay tiền ngày 19/3/2022), theo mức lãi suất 1,67%/tháng, anh Đ hẹn đến ngày 19/5/2022 sẻ trả gốc và lãi. Đến hẹn anh Đ chỉ trả được tiền gốc là 5.320.000đ, còn nợ lại 10.680.000đ. Như vậy hiện anh Đ còn nợ tôi hai khoản tiền gốc là 15.222.000đ. Hôm nay tôi yêu cầu anh Đ trả cho tôi tiền gốc của hai khoản vay và tiếp tục tính lãi theo mức lãi suất 1.67%/tháng, thời gian từ khi vay đến khi giải quyết xong vụ kiện, ngoài ra không yêu cầu gì khác.

Tòa án đã tống đạt đầy đủ các thủ tục tố tụng đối với bị đơn anh Phạm Văn Đ. Vợ anh là chị Bùi Thị T ký nhận và cam kết sẻ giao lại cho anh Đ như: Thông báo về việc thụ lý vụ án số 204/TB-TLVA ngày 15/6/2022; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 80/TB-TA ngày 06/7/2022; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 24/TB-TA ngày 18/7/2022; Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 88/TB-TA ngày 18/7/2022; Thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải số 26/TB-TA ngày 01/8/2022 và Thông báo số: 19/TB-TA ngày 17/8/2022 nhưng bị đơn anh Phạm Văn Đ không có ý kiến trình bày của mình và cũng không đến Tòa án.

Ý kiến của Viện kiểm sát:

- Về tố tụng: Việc tuân thủ pháp luật, từ khi thụ lý đến khi xét xử vụ án cũng như tại phiên tòa Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký đã thực hiện đầy đủ các thủ tục theo pháp luật quy định tại Điều 26, Điều 35 và Điều 68 của Bộ luật tố tụng dân sự. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn trong vụ kiện đúng theo quy định pháp luật. Bị đơn anh Phạm Văn Đ không chấp hành theo quy định pháp luật, vắng mặt tại phiên tòa không có lý do.

- Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn H đối với anh Phạm Văn Đ. Buộc anh Phạm Văn Đ có trách nhiệm trả số tiền gốc và lãi cho anh Nguyễn Văn H theo Điều 463 và Điều 466 của Bộ luật dân sự.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử xét thấy:

. Về tố tụng:

- Về thẩm quyền: Bị đơn anh Phạm Văn Đ cư trú tại ấp K, xã P, huyện T, tỉnh Đồng Tháp nên thẩm quyền giải quyết thuộc Tòa án nhân dân huyện Tam Nông theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

- Về quan hệ pháp luật: Anh Nguyễn Văn H khởi kiện anh Phạm Văn Đ trả tổng số tiền vay gốc của hai khoản vay là 15.222.000đ và yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 1,67%/tháng, thời gian tư khi vay đến khi giải quyết xong vụ án. Đây là quan hệ pháp luật “Tranh chấp hợp đồng dân sự về vay tài sản” được quy định tại Điều 463 của Bộ luật dân sự.

- Về xét xử vắng mặt: Nguyên đơn anh Nguyễn Văn H có mặt tại phiên tòa. Bị đơn anh Phạm Văn Đ vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do. Tòa án tiến hành xét xử là phù hợp với Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự.

[2]. Về nội dung:

Xét hợp đồng vay giữa anh Nguyễn Văn H với anh Phạm Văn Đ mặc dù hai bên không làm hợp đồng theo luật định, chỉ có hợp đồng vay tiền, hai bên cùng ký, hai bên hoàn toàn tự nguyện, đủ năng lực hành vi dân sự, không trái với đạo đức xã hội, hợp đồng trên là hợp pháp và được pháp luật bảo vệ .

Xét yêu cầu của anh Nguyễn Văn H yêu cầu anh Phạm Văn Đ trả số tiền gốc của hai khoản vay là 15.222.000đ và yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 1,67%/tháng, thời gian từ khi vay đến khi giải quyết xong vụ án là có căn cứ chấp nhận. Bởi vì, xuất phát từ số tiền vay ngày 04/3/2022, anh Đ hẹn đến ngày 04/5/2022 sẻ trả gốc và lãi; hợp đồng ngày 19/3/2022, anh Đ hẹn 19/5/2022 sẻ trả gốc và lãi. Đến hẹn anh không trả hết số tiền như đã hẹn anh chỉ trả được một số, số còn lại đến nay chưa trả. Đối với hợp đồng vay tiền ngày 04/3/2022 anh Đ trả được tiền gốc 3.458.000đ còn lại tiền gốc 4.542.000đ. Đối với số tiền vay 19/3/2022 anh Đ trả tiền gốc 5.320.000đ, còn nợ lại tiền gốc là 10.680.000đ. Như vậy hai khoản vay trên anh Đ còn nợ số tiền gốc là 15.222.000đ.

Tại phiên tòa hôm nay anh H yêu cầu anh Đ có trách nhiệm trả lãi theo mức lãi suất 1,67%/tháng, thời gian từ khi vay đến khi giải quyết xong vụ kiện. Xét yêu cầu về việc tính lãi của anh H là có cơ sở, không vi phạm luật định nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Tiền lãi được tính cụ thể như sau:

* Đối với khoản tiền vay ngày 04/3/2022 gốc là 8.000.000đ.

- Thời gian từ 04/3/2022 đến ngày 04/5/2022 là 02 tháng lãi.

Tiền gốc 8.000.000đ x 1,67%/tháng x 02 tháng = 267.000đ tiền lãi.

-Tiền gốc còn lại là 4.542.000đ.

Thời gian từ ngày 04/5/2022 đến ngày 31/8/2022 là 03 tháng 27 ngày

- Tiền gốc: 4.542.000đ x 1,67%/tháng x 03 tháng 27 ngày = 295.500đ tiền lãi. Tổng cộng gốc và lãi (gốc 4.542.000đ + lãi 295.500đ ) là 4.837.500đ.

* Đối với khoản tiền vay ngày 19/3/2022 gốc là 16.000.000đ.

- Thời gian từ ngày 19/3/2022 đến 19/5/2022 là 02 tháng lãi.

Tiền gốc 16.000.000đ x 1,67%/tháng x 02 tháng = 534.000đ tiền lãi.

- Tiền gốc còn lại 10.680.000đ

Thời gian từ ngày 19/5/2022 đến ngày 31/8/2022 là 03 tháng 12 ngày.

- Tiền gốc: 10.680.000đ x 1,67%/tháng x 03 tháng 12 ngày = 606.000đ tiền lãi.

- Tổng cộng gốc 10.680.000đ và tiền lãi 1.140.000đ = 11.820.000đ.

Như vậy đối với hai khoản vay gốc và lãi là: 16.657.000đ (Mười sáu triệu, sáu trăm năm mươi bảy ngàn đồng).

Tại phiên tòa hôm nay anh Phạm Văn Đ đã được Tòa án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng anh cố tình vắng mặt không tham dự phiên tòa để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình nên Hội đồng xét xử căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và những tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ đã thu thập được để xét xử theo quy định.

. Về án phí dân sự sơ thẩm: Do yêu cầu của anh Nguyễn Văn H được chấp nhận nên anh Phạm Văn Đ phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo pháp luật quy định.

Đối với lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Tam Nông là có cơ sở nên Hội đồng xét xử chấp nhận.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ các Điều 26; 39; 46; 144; 147 và Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 429; 463; 466 và Điều 468 của Bộ Luật dân sự; Điểm đ, khoản 1 Điều 12 và điểm a, khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 Quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử :

1. Chấp nhận yêu cầu của anh Nguyễn Văn H đối với anh Phạm Văn Đ.

2. Buộc anh Phạm Văn Đ có trách nhiệm trả cho anh Nguyễn Văn H số tiền vay còn nợ gốc và lãi là 16.657.000đ (Mười sáu triệu, sáu trăm năm mươi bảy ngàn đồng).

Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015

3.Về án phí dân sự sơ thẩm:

- Anh Phạm Văn Đ phải nộp số tiền 832.000đ (Tám trăm ba mươi hai ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

- Anh Nguyễn Văn H được nhận lại toàn bộ số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 394.000đ (Ba trăm chín mươi bốn ngàn đồng) theo biên lai số 0003748, quyển số 0075, ngày 15/6/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tam Nông.

Báo cho nguyên đơn biết, có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án hôm nay. Báo cho bị đơn vắng mặt được biết có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Tháp trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết theo quy định của Bộ Luật tố tụng dân sự.

Trường hợp bản án được Thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ