vanban.org

Bản án 40/2022/DS-ST — Dân sự

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Diếp Thị Diễm Tr về yêu cầu anh Lê Văn SE phải trả cho chị Diễm Tr số tiền mua thức ăn còn thiếu là 122.

Buộc anh Lê Văn SE phải trả cho chị Diếp Thị Diễm Tr số tiền mua thức ăn còn thiếu là 122.325.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của chị Diễm Tr về việc buộc ông Lê Văn C, bà Huỳnh Thị D liên đới cùng anh SE trả số tiền 122.325.000 đồng cho chị Diễm Tr. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án dân sự — "Tranh chấp hợp đồng mua bán"
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Diếp Thị Diễm Tr về yêu cầu anh Lê Văn SE phải trả cho chị Diễm Tr số tiền mua thức ăn còn thiếu là 122.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CHÂU THÀNH
TỈNH TRÀ VINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2022/DS-ST
Ngày 17-8-2022
V/v “Tranh chấp hợp đồng mua bán”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH, TỈNH TRÀ VINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Văn Hùng.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Bà Thi Thị Thanh Trúc;

2. Bà Trần Thị Sang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Châu Thị Phượng Liên, là Thư ký Tòa án của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Ngọc Hân - Kiểm sát viên.

Ngày 17 tháng 8 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 325/2022/TLST-DS ngày 30 tháng 5 năm 2022 về việc “Tranh chấp hợp đồng mua bán”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 111/2020/QĐXX-DS ngày 02/8/2022; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Diếp Thị Diễm Tr, sinh năm 1982 (Có mặt);

Địa chỉ: Ấp OY, xã HM, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

- Bị đơn: Anh Lê Văn SE, sinh năm 1981 (Vắng mặt);

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1/- Ông Lê Văn C (Vắng mặt);

2/- Bà Huỳnh Thị D (Có đơn xin vắng mặt);

Cùng địa chỉ: Ấp LH1, xã HM, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Theo nguyên đơn trình bày: Vào khoảng tháng 4/2019, Lê Văn SE có đến cửa hàng của chị mua thức ăn nuôi tôm. Đến tháng 02/2020 anh SE không còn mua thức ăn nữa, anh SE nợ chị số tiền 130.325.000 đồng. Sau đó anh SE có trả được số tiền 8.000.000 đồng, còn nợ lại số tiền 122.325.000 đồng. Mặc dù số tiền nợ còn lại chị đã nhiều lần nhắc nhở, yêu cầu anh SE phải trả, nhưng anh SE vẫn không trả làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của chị. Nay chị yêu cầu anh SE và những người có liên quan liên đới trả cho chị số tiền 122.325.000 đồng, không yêu cầu tính lãi.

Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành đã tổ chức phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải để các đương sự thỏa thuận với nhau về việc giải quyết vụ án. Tại các phiên họp, phiên hòa giải phía bị đơn anh SE và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn C, bà Huỳnh Thị D đều vắng mặt không có lý do nên Tòa án lập biên bản vắng mặt đương sự, biên bản không tiến hành hòa giải được vụ án và Tòa án quyết định đưa vụ án ra xét xử.

Tại phiên tòa hôm nay, nguyên đơn vắng mặt, nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt và vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện về yêu cầu anh SE và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn C, bà Huỳnh Thị D phải có trách nhiệm liên đới trả cho chị Trang số tiền 122.325.000 đồng.

Đối với bị đơn anh SE và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn C, bà Huỳnh Thị D vắng mặt không có lý do đến lần thứ hai nên không có lời trình bày, đề đạt yêu cầu.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong tố tụng dân sự tại phiên tòa cho rằng việc thụ lý vụ án “Tranh chấp hợp đồng mua bán” là đúng quan hệ tranh chấp. Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và đương sự đảm bảo đúng quy định. Về đưa người tham gia tố tụng, tống đạt văn bản tố tụng cho Viện kiểm sát, cho các đương sự Tòa án đã đưa đầy đủ và tống đạt văn bản cho đương sự theo đúng quy định trong hòa giải cũng như tại phiên tòa hôm nay nên việc xét xử đúng pháp luật.

- Về nội dung giải quyết vụ án: Sau khi phân tích, đánh giá chứng cứ, vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 3 Điều 26; Điều 147; Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 440, 443 của Bộ luật Dân sự; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Chấp nhận yêu cầu của chị Diếp Thị Diễm Tr, buộc anh Lê Văn SE có nghĩa vụ trả cho chị Diễm Tr số tiền 122.325.000 đồng.

Buộc bị đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử xét thấy:

Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền: Quan hệ pháp luật của vụ án là “Tranh chấp hợp đồng mua bán”. Bị đơn cư trú tại ấp LH1, xã Hòa Minh, huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Về đưa người tham gia tố tụng và hòa giải:

Căn cứ vào đơn khởi kiện của nguyên đơn, Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh đã đưa bị đơn là anh SE và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn C, bà Huỳnh Thị D tham gia tố tụng; thực hiện việc thông báo thụ lý vụ án, thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải vụ án theo đúng quy định tại Điều 68, Điều 70, Điều 196, Điều 208, 209, 210 và Điều 211 Bộ luật Tố tụng Dân sự. Tại phiên tòa hôm nay nguyên đơn vắng mặt (nhưng có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt); bị đơn anh SE và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn C, bà Huỳnh Thị D vắng mặt đến lần thứ hai không có lý do, căn cứ khoản 2 Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt anh SE và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn C, bà Huỳnh Thị D.

Về nội dung:

Chị Diếp Thị Diễm Tr khởi kiện yêu cầu ông anh SE và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn C, bà Huỳnh Thị D liên đới phải trả lại cho Diễm Tr số tiền do mua thức ăn thiếu là 122.325.000 đồng, về phần lãi suất chị Diễm Tr không yêu cầu.

Xét yêu cầu của chị Diếp Thị Diễm Tr khởi kiện yêu cầu anh SE và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Lê Văn C, bà Huỳnh Thị D liên đới phải trả lại cho chị Diễm Tr số tiền do mua thức ăn còn thiếu là 122.325.000 đồng; Hội đồng xét xử xét thấy có một phần cơ sở để chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Diễm Tr, chấp nhận quan điểm của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện; bởi vì:

Mặc dù anh SE không đến Tòa án, không có bản tự khai, không có ý kiến về việc thừa nhận hay phản bác yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Nhưng khi chị Trang khởi kiện có cung cấp giấy Biên nhận nợ đề ngày 24/02/2020 nợ chị Trang số tiền 130.325.000 đồng. Theo bản ghi lời khai của bà Huỳnh Thị D ngày 05/7/2022 (bút lục số 11), bà Dung thừa nhận số tiền 122.325.000 đồng là số tiền SE mua thức ăn chăn nuôi nợ của chị Diếp Thị Diễm Tr. Tuy nhiên bà và ông C không có mua và bảo lãnh việc trả nợ cho SE, vì SE nuôi tôm riêng không phải nuôi chung cho gia đình nên không đồng ý trả theo yêu cầu của chị Diễm Tr. Chị Diễm Tr cũng không có chứng cứ nào để chứng minh ông C, bà D có thỏa thuận việc mua thức ăn cùng anh SE và có việc thỏa thuận bảo lãnh trả thay cho anh SE đối với số tiền mua thức ăn của chi Diễm Tr.

Từ cơ sở, chứng cứ nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu của chị Diếp Thị Diễm Tr, buộc anh Lê Văn SE có nghĩa vụ trả cho chị Diễm Tr số tiền nợ còn thiếu là 122.325.000 đồng. Không chấp nhận yêu cầu của chị Diễm Tr buộc ông C, bà D liên đới trả số tiền 122.325.000 đồng cùng với anh SE.

Về tiền lãi: Do chị Diếp Thị Diễm Tr không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí: Lê Văn SE phải chịu án phí giá ngạch dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 1 Điều 147; khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng Điều các 430, 440 của Bộ luật Dân sự; áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Diếp Thị Diễm Tr về yêu cầu anh Lê Văn SE phải trả cho chị Diễm Tr số tiền mua thức ăn còn thiếu là 122.325.000 đồng.

Buộc anh Lê Văn SE phải trả cho chị Diếp Thị Diễm Tr số tiền mua thức ăn còn thiếu là 122.325.000 đồng.

Không chấp nhận yêu cầu của chị Diễm Tr về việc buộc ông Lê Văn C, bà Huỳnh Thị D liên đới cùng anh SE trả số tiền 122.325.000 đồng cho chị Diễm Tr.

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành khi bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất được quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.

Về án phí: Buộc anh Lê Văn SE phải chịu 6.116.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại cho chị Diếp Thị Diễm Tr số tiền tạm ứng án phí 3.058.000 đồng đã nộp theo biên lai thu tiền số 0011162 ngày 30 tháng 5 năm 2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Trà Vinh.

Trường hợp bản án được thi hành theo Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thỏa thuận thi hành án, yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm công khai; báo cho nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được tống đạt bản án hợp lệ hoặc niêm yết nơi cư trú.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Cỡ chữ