- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo La Văn B phạm tội: “ Cướp tài sản”
- Căn cứ chính? Bộ luật Dân sự; Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN TỈNH BẮC NINH ------------ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2021/HSST Ngày: 13/12/2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ TỪ SƠN, TỈNH BẮC NINH:
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phong;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Ngô Xuân Hải;
Ông Nguyễn Đăng Thuý.
Những người tiến hành tố tụng khác:
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Nguyễn Đình Thành- Thư ký
Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn;
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn tham gia phiên tòa: Bà
Trần Thị Hằng - Kiểm sát viên;
Hôm nay, ngày 13/12/2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Từ Sơn tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 47/2021/HSST ngày 17/11/2021; Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2021/HSST-QĐ ngày 30/11/2021; Đối với bị cáo:
La Văn B - Sinh năm 1989;
Nơi ĐHKTT: Thôn Là 3, xã VL, huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai; Giới tính: Nam; Dân tộc: Tày, Quốc tịch: Việt Nam, Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Con ông La Văn Thái, sinh năm 1965 và con bà Lư Thị B (đã chết); Mẹ kế là bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1969; Gia đình có 03 anh em, bị cáo là thứ hai; Vợ: Hoàng Thị Mùi, sinh năm 1989; Có 02 con, con lớn sinh năm 2011, con nhỏ sinh năm 2014; Tiền sự: Không; Tiền án: Bản án số 23/2019/HS-ST ngày 25/02/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 05/02/2021 chấp hành xong bản án.
Nhân thân: Ngày 28/9/2015, bị Tòa án nhân dân huyện Văn Bàn, tỉnh Lào Cai ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc tại Trung tâm chữa bệnh - Giáo dục - Lao động xã hội tỉnh Lào Cai thời hạn 12 tháng; Chấp hành xong ngày 07/9/2016;
Bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 23/7/2021 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Bắc Ninh; Có mặt tại phiên tòa.
Bị hại: Chị Trương Thị H, sinh năm 1973, vắng mặt;
HKTT: Xóm 3, xã Nghĩa Hợp, huyện Tân Kỳ, tỉnh Nghệ An;
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Chị Nguyễn Thị Thu H1, sinh năm 1993 (Đề nghị xét xử vắng mặt);
Địa chỉ: Tổ dân phố VQ2, phường CS, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
La Văn B là bảo vệ tại Công ty PEPSICO - khu Công nghiệp VSIP và chị Trương Thị H, làm tạp vụ cùng Công ty. Hai bên có quan hệ tình cảm với nhau. B biết chị H có tài sản nên B nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản.
Khoảng 17 giờ ngày 17/7/2021, B sử dụng điện thoại (nhãn hiệu OPPO A15 màu xanh) hẹn chị H đi chơi. Chị H đồng ý. Khoảng 18 giờ, B đi đến quầy thuốc tây mua 01 vỉ thuốc “CINACETAM” (gồm 04 viên con nhộng, một nửa màu cam, một nửa màu trắng). Loại thuốc này, B đã sử dụng do bị mất ngủ. B gọi điện thoại cho chị H đến đón. Chị H điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, B kiểm soát: 37N-185.91. Gặp B, chị H đưa xe mô tô cho B điều khiển. Cả hai đi ăn cơm, sau đó đến nhà nghỉ Thảo Nguyên 1 thuộc khu phố Doi Sóc, phường Phù Chẩn, thị xã Từ Sơn (nay là thành phố Từ Sơn). B để xe mô tô ở hầm để xe, hai người đi vào quầy lễ tân thuê phòng. Cả 2 đi lên phòng 201. B quay xuống quầy lễ tân mua 01 chai nước nhãn hiệu NUMBER 1 và 01 lon nước ngọt (tăng lực) mang lên phòng. B vào nhà vệ sinh bóc 02 viên thuốc “CINACETAM”, đổ chất bột trong đó vào chai nước, vứt vỏ thuốc vào thùng rác. B cho 02 viên còn lạivào bồn cầu rồi xả nước. B cầm chai nước đã pha thuốc để lên trên mặt tủ cạnh giường ngủ.
Khoảng 21 giờ, B và chị H tự nguyện quan hệ tình dục. Sau đó, B đưa chai nước đã pha thuốc cho chị H. Chị H uống khoảng 20ml nước trong chai. B và chị H nằm nghỉ ở giường. Thấy chị H đã ngủ. B tháo sợi dây chuyền trên cổ chị H, lấy 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 để trên bàn rồi đi xuống quầy lễ tân. B nói với chủ nhà nghỉ là về trước đi làm, rồi đi xuống tầng hầm lấy xe mô tô, điều khiển xe ra khỏi khu vực nhà nghỉ.
B vào cửa hàng vàng bạc của anh Phạm Văn Lưu bán sợi dây chuyền với giá 9.700.000 đồng. B lấy số tiền khoảng 300.000 đồng sau ốp lưng điện thoại, rồi vứt điện thoại tại bãi rác ở giữa thôn Đại Thượng và thôn Đại Vi thuộc xã Đại Đồng, huyện Tiên Du. Sau đó, B đi về phòng trọ lấy quần áo, điều khiển xe mô tô của chị H đi đến tỉnh Thái Nguyên. Khoảng 13 giờ ngày 18/7/2021, B đến địa bàn thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên chơi với bạn là chị Nguyễn Thị Thu H1. B và chị H1 đi đến cửa hàng vàng bạc Duy Hưng. B dùng tiền bán sợi dây chuyền của chị H mua cho chị H1 01 sợi dây chuyền vàng giá: 3.550.000 đồng. Số tiền còn lại B đã chi tiêu cá nhân hết.
*Vật chứng thu giữ: Khám nghiệm hiện trường nơi xảy ra vụ việc là nhà nghỉ Thảo Nguyên 1, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã thu giữ: Tại thùng rác trong nhà vệ sinh: 02 vỏ viên thuốc (dạng viên con nhộng) đã sử dụng, một nửa màu cam, một nửa màu trắng. Tại mặt tủ để đồ cạnh giường ngủ: 01 chai nhựa nhãn hiệu Number 1 bên trong chứa khoảng 480ml dung dịch màu trắng đục và 01 đầu thu dữ liệu Camera nhãn hiệu VANTECH màu đen.
Thi hành Lệnh giữ người trong trường hợp khẩn cấp đối với B, Cơ quan điều tra thu giữ: 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 màu xanh lắp sim số 0379.568.810; 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Sirius, màu đỏ, BKS: 37N1-185.91 kèm theo đăng ký xe; 01 thẻ Ngân hàng Vietcombank và 01 giấy phép lái xe; Đều mang tên Trương Thị H
Chị Nguyễn Thị Thu H1 tự nguyện giao nộp: 01 sợi dây kim loại màu vàng mà B đã mua tặng.
*Kết luận giám định: Kết luận giám định số 74/KLGĐ-PC09 ngày 23/8/2021 của Phòng kỹ thuật hình sự - Công an tỉnh Bắc Ninh kết luận: “01 sợi dây chuyền là kim loại vàng, trọng lượng 1,3 chỉ, hàm lượng vàng 42,45 %”;
Kết luận giám định số 6105/C09-P4 ngày 28/7/2021 của Viện kH học hình sự - Bộ Công an kết luận: “Trong 02 vỏ thuốc dạng viên nhộng màu trắng - cam (ký hiệu T) và mẫu chất lỏng màu trắng đục đựng trong chai nhựa có gắn nhãn “NUMBER1” (ký hiệu N) gửi giám định đều tìm thấy hoạt chất Piracetam và Cinnarizine.
Piracentam là chất có tác dụng hưng trí, giúp cải thiện khả năng nhận thức trí nhớ, học tập; không có tác dụng kích thích hướng thần hoặc an thần; được chỉ định để điều trị: rung giật cơ nguồn gốc vỏ não, thiếu máu não, sa sút trí tuệ ở người già, chứng khó đọc ở trẻ nhỏ, chóng mặt. Có tác dụng không mong muốn: mệt mỏi, bồn chồn, dễ kích động nhức đầu, ngủ gà....
Cinarizine là chất kháng histamin (H1), được chỉ định điều trị: rối loạn mạch não và mạch ngoại vi; phòng say xe. Có tác dụng không mong muốn: ngủ gà, nhức đầu, rối loạn tiêu hóa, ra mồ hôi....
Trong mẫu chất lỏng màu vàng ghi thu mẫu nước tiểu của chị Trương Thị H (ký hiệu C) gửi giám định không tìm thấy Piracetam, Cinnarizine. Ngoài ra, trong tất cả các mẫu gửi giám định đều không tìm thấy các chất có tác dụng gây mê, an thần, gây ngủ”.
Công văn số 2809/SYT-NVD ngày 25/8/2021 của Sở y tế tỉnh Bắc Ninh xác định: “Công dụng của Piracetam: thường gặp: Toàn thân mệt mỏi; Tiêu hóa: Buồn nôn, nôn, tiêu chảy, đau bụng, trướng bụng: Thần kinh: bồn chồn, dễ kích động, nhức đầu, mất ngủ, ngủ gà. Cinarizine: thường gặp: Thần kinh trung ương: Ngủ gà. Tiêu hóa: rối loạn tiêu hóa”
Kết luận giám định số 6116/C09-TT3 ngày 13/8/2021 Viện kH học hình sự - Bộ Công an kết luận: “Trong mẫu ghi thu dịch âm đạo của Trương Thị H có xác tinh trùng của một người nam giới, phân tích và lưu kiểu gen (ADN) của người nam giới này tại Viện KH học hình sự - Bộ Công an”
*Kết luận định giá tài sản số 69/KL-HĐĐG ngày 29/7/2021 của Hội đồng định giá thường xuyên - UBND thị xã Từ Sơn kết luận: “Chiếc xe mô tô BKS: 37N1 -185.91, chiếc điện thoại OPPOA15 và sợi dây chuyền của chị H có giá trị lần lượt là: 15.000.000 đồng, 2.000.000 đồng và 11.000.000 đồng”.
Cáo trạng số 214/CT-VKS ngày 16/11/2021 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn đã truy tố bị cáo La Văn B về tội: “Cướp tài sản” theo khoản 2 Điều 168 - Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đã thực hiện, đề nghị HĐXX giảm nhẹ hình phạt để yên tâm cải tạo, sớm trở về địa phương.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn thực hành quyền công tố tại phiên tòa phát biểu luận tội; Sau khi đưa ra các chứng cứ, phân tích tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên tội danh như Cáo trạng đã truy tố và rút nội dung truy tố bị cáo theo khoản 2 Điều 168 – BLHS bằng nội dung truy tố bị cáo theo khoản 1 Điều 168 - BLHS và đề nghị: Áp dụng khoản 1 Điều 168, điểm h khoản 1 Điều 52; Điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 - BLHS; Xử phạt: La Văn B từ 04 năm 06 tháng đến 05 năm tù; Thời hạn tù tính từ ngày 23/7/2021; Không áp dụng hình phạt bổ sung;
-Trách nhiệm dân sự: Áp dụng Điều 48 – Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 589 – Bộ luật Dân sự: 01 đăng ký xe mô tô BKS: 37N1-185.91; 01 thẻ Ngân hàng Vietcombank số 9704368622557859019; 01 giấy phép lái xe số 4011770118997 đều mang tên Trương Thị H; Chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, sơn màu đỏ, BKS: 37N1-185.91 đã được thu hồi và trả lại cho chị H. Chị H nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì với tài sản này nên không giải quyết. Buộc bị cáo bồi thường cho chị H giá trị tài sản bị chiếm đoạt là 01 chiếc dây chuyền vàng, 01 điện thoại di động và trả lại cho chị H 300.000đồng trong ốp lưng điện thoại.
Đối với 01 chiếc dây chuyền bị cáo mua tặng chị Nguyễn Thị Thu H1 có được do bị cáo bán chiếc dây chuyền của chị H lấy tiền mua. Chị H1 đã giao nộp cho Cơ quan điều tra. Do bị cáo đã phải bồi thường cho chị H giá trị tài sản bị chiếm đoạt nên trả lại cho bị cáo tài sản này. Nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
- Xử lý vật chứng: Áp dụng điều 47 – BLHS; Điều 106 – BLTTHS: Tịch thu sung công quĩ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động OPPO A15 màu xanh của bị cáo đã sử dụng làm phương tiện liên lạc với chị H nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản; Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định của Viện kH học hình sự - Bộ Công an.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Khoảng 21 giờ ngày 17/7/2021, tại nhà nghỉ Thảo Nguyên 1, thuộc khu phố Doi Sóc, phường Phù Chẩn, thị xã Từ Sơn (nay là thành phố Từ Sơn), tỉnh Bắc Ninh, La Văn B có hành vi pha 02 viên thuốc “CINACETAM” vào chai nước nhãn hiệu NUMBER 1 với mục đích cho chị Trương Thị H uống để chiếm đoạt tài sản. Sau khi chị H và B tự nguyện quan hệ tình dục, B đã đưa chai nước cho chị H uống. Chị H không biết trong nước đã bị Bỉên pha thuốc ngủ nên đã uống 1 – 2 ngụm. Khi chị H nằm ngủ trên giường, B đã chiếm đoạt của chị H 01 xe mô tô, 01 điện thoại di động, 01 dây chuyền và số tiền 300.000 đồng, tổng trị giá tài sản là 28.300.000 đồng.
Hành vi của bị cáo với thủ đoạn sử dụng thuốc hỗ trợ điều trị mất ngủ làm cho chị H lâm vào tình trạng không thể chống cự được để chiếm đoạt tài sản, đã thỏa mãn cấu thành của tội: “Cướp tài sản”. Tại phiên toà, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Từ Sơn, rút một phần nội dung truy tố bị cáo từ khoản 2 điều 168 – BLHS sang nội dung truy tố bị cáo B theo khoản 1 Điều 168 – BLHS là hoàn toàn có căn cứ nên được chấp nhận.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, không những xâm phạm quyền sở hữu về tài sản được pháp luật bảo vệ, mà còn xâm phạm đến sức khoẻ của con người, gây mất ổn định tình hình an ninh trật tự tại địa phương. HĐXX xét thấy cần phải áp dụng một hình phạt thật nghiêm khắc, cách ly bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo là người có nhân thân xấu. Đã bị Tòa án áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc; Đã bị xử phạt tù về hành vi liên quan đến ma túy; Nhưng vẫn không chịu từ bỏ, tiếp tục thực hiện những hành vi vi phạm pháp luật. Tại phiên tòa hôm nay cũng như tại cơ quan điều tra, bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải về hành vi của mình. Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51-BLHS.
Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bản án số 23/2019/HS-ST ngày 25/02/2019 của Tòa án nhân dân thành phố Vĩnh Yên, tỉnh Vĩnh Phúc xử phạt 02 năm 09 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. Ngày 05/02/2021, bị cáo chấp hành xong bản án. Lại tiếp tục phạm tội, bị cáo phải chịu 01 tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự
Bị cáo là người không có nghề nghiệp ổn định, nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
Về trách nhiệm dân sự: Các tài sản gồm: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu YAMAHA SIRIUS, sơn màu đỏ, BKS: 37N1-185.91; 01 đăng ký xe mô tô số: 009120, 01 thẻ Ngân hàng Vietcombank số 9704368622557859019, 01 giấy phép lái xe số 4011770118997 đều mang tên Trương Thị H; Đều đã được thu hồi và trả lại cho chị H. Chị H nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì với những tài sản này nên HĐXX không giải quyết.
Đối với sợi dây chuyền (do bị cáo đã bán cho cửa hàng vàng, đã được bán cho người khác) và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 (bị cáo vứt ở bãi rác). Cơ quan điều tra đã tiến hành truy tìm nhưng không thu giữ được. Đây là những tài sản bị cáo đã chiếm đoạt của chị H. Hai tài sản này có giá trị 13.000.000đồng; Cần buộc bị cáo bồi thường cho chị H. Ngoài ra bị cáo còn phải trả lại chị H số tiền 300.000đồng (để sau ốp lưng điện thoại của chị H) bị cáo đã chiếm đoạt.
Đối với 01 chiếc dây chuyền bị cáo mua tặng chị Nguyễn Thị Thu H1 có được do bị cáo bán chiếc dây chuyền của chị H lấy tiền mua. Chị H1 đã giao nộp cho Cơ quan điều tra. Do bị cáo đã phải bồi thường cho chị H giá trị tài sản bị chiếm đoạt nên trả lại cho bị cáo tài sản này. Nhưng cần tạm giữ để đảm bảo thi hành án.
Về vật chứng của vụ án: Cơ quan điều tra - Công an thị xã Từ Sơn đã trả lại 01 đầu thu dữ liệu Camera nhãn hiệu VANTECH màu đen (do đã bị hỏng, không lưu giữ thông tin liên quan đến vụ án) cho chủ nhà nghỉ Thảo Nguyên 1. Ông Hoằng đã nhận lại tài sản và không đề nghị gì, nên không xem xét giải quyết.
Tịch thu sung công quĩ nhà nước 01 chiếc điện thoại di động OPPO A15 màu xanh của bị cáo đã sử dụng làm phương tiện liên lạc với chị H nhằm mục đích chiếm đoạt tài sản.
Tịch thu tiêu hủy: Mẫu vật còn lại sau giám định của Viện kH học hình sự - Bộ Công an.
Án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm và án phí Dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Liên quan trong vụ án này còn có:
Chị Nguyễn Thị Thu H1, là người được B mua cho chiếc dây chuyền vàng. Chị H1 không biết tiền mua dây chuyền là do B chiếm đoạt của chị H;
Anh Phạm Văn Lưu, là người mua chiếc dây chuyền vàng của B. Anh Lưu không biết chiếc dây chuyền là do B chiếm đoạt được của chị H. Anh Lưu đã bán cho người không quen biết.
Chị Nguyễn Thị Tú là người đã bán cho B vỉ thuốc CINACETAM. Chị Tú không biết B dùng để cho chị H uống chiếm đoạt tài sản.
Anh Ngô Đình Hưng là chủ cửa hàng vàng bạc Duy Hưng tại số 91, tổ 10, phường Thắng Lợi, thành phố Sông Công, tỉnh Thái Nguyên bán cho B chiếc dây chuyền không biết tiền do B chiếm đoạt của chị H mà có.
Cơ quan điều tra không xử lý đối với chị H1, anh Lưu, chị Tú, anh Hưng là phù hợp.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo La Văn B phạm tội: “ Cướp tài sản”
Áp dụng khoản 1 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 47; Điều 48 – Bộ luật Hình sự; Điều 584; Điều 589 – Bộ luật Dân sự;
Điều 106 ; Điều 136 ; khoản 3 Điều 392; Điều 331, Điều 333-BLTTHS; Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 Ngày 30/12/2016;
Xử phạt : La Văn B: 54 (Năm mươi tư) tháng tù;
Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 23/7/2021
Quyết định tạm giam bị cáo trong thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án để đảm bảo thi hành án.
*Trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo La Văn B phải bồi thường cho chị H số tiền là 13.000.000đ (Mười ba triệu đồng) và trả lại chị H số tiền 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng)
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không tự nguyện thi hành số tiền trên thì phải trả lãi đối với số tiền chậm trả theo mức lãi suất bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại thời điểm thanh toán tương ứng với số tiền và thời gian chậm thi hành án.
Trả lại cho bị cáo, nhưng tạm giữ để đảm bảo thi hành án tài sản là: 01 dây chuyền vàng (do chị H1 tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra), được gửi giám định, đựng trong phong bì thư dán kín niêm phong, có đóng dấu của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Bắc Ninh, chữ ký của giám định viên. Là mẫu vật hoàn trả sau giám định kèm theo kết luận giám định số 74/KLGĐ-PC09 ghi ngày 23/8/2021. (Theo biên bản giao nhận tài sản số 45/2021/BBBG-KBNN ngày 17/11/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra, công an thành phố Từ Sơn và Kho bạc nhà nước Từ Sơn).
*Về xử lý vật chứng:
Tịch thu tiêu hủy 01 phong bì thư được niêm phong đựng mẫu vật còn lại sau giám định của Viện kH học hình sự- Bộ Công an; Tịch thu sung công quĩ nhà nước 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO A15 màu xanh của bị cáo La Văn B (Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 17/11/2021 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Từ Sơn và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Từ Sơn).
*Án phí:
Bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm và 665.000đ (Sáu trăm sáu mươi năm ngàn đồng) án phí Dân sự sơ thẩm.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Bị hại; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt án vắng mặt hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - TAND tỉnh BN; - VKSND tỉnh, TPTS; - Chi cục THADS TPTS; - Sở TP tỉnh BN; - Công an TP Từ Sơn; - Lưu án văn, hồ sơ Các Hội thẩm nhân dân Ngô Xuân Hải Nguyễn Đăng Thuý | TM HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Phong Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Phong |