- Tranh chấp gì? án hình sự — "Cướp tài sản - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1]. Tuyên bố bị cáo Trịnh Trần Phát Đ phạm tội “Cƣớp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 101 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN COÄNG HOØA XAÕ HOÄI CHUÛ NGHÓA VIEÄT NAM THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40 /2021/HSST Ngày: 18/11/2021. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN PHÚ NHUẬN TP. HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Mai Thùy.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Ông Đoàn Văn Hùng – Phó hiệu trưởng Trung tâm giáo dục thường xuyên quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh;
2/ Bà Lê Thị Thu Hƣơng – Nguyên Phó phòng Lao động Thương binh và Xã hội quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Vũ Thị Trang – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Tuyết Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 11 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 37/2020/TLST – HS ngày 28/6/2021 đối với bị cáo:
TRỊNH TRẦN PHÁT Đ : giới tính: nam; sinh ngày 07/7/2004 tại Đồng Nai; Nơi đăng ký HKTT: ấp 4, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Nai; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: không; Văn hóa: 10/12; Nghề nghiệp: không; Con ông: Trịnh Minh T; Con bà: Trần Thị V; Hoàn cảnh gia đình: Chưa có vợ, con; Tiền án – tiền sự: không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 22/01/2021 (có mặt).
* Ngƣời đại diện hợp pháp cho bị cáo Đ: Bà Trần Thị V, sinh năm 1969.
Địa chỉ: ấp 4, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Nai (Có mặt).
* Ngƣời bào chữa: Bào chữa chỉ định cho bị cáo có ông Huỳnh V.Q là Luật sư của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
* Ngƣời bị hại:
1/ Bà Nguyễn Hoàng G; sinh năm 1996 (vắng mặt).
Địa chỉ: đường M, phường T, quận T, Tp. Hồ Chí Minh.
2/ Bà Lê Trần T.T, sinh năm 2001 (vắng mặt).
Địa chi: đường A, Phường B, quận G, Tp. Hồ Chí Minh.
3/ Bà Nguyễn Thị K, sinh năm 1994 (vắng mặt).
Địa chỉ: đường C, Phường D, quận Z, Tp. Hồ Chí Minh.
4/ Bà Trần Thị M, sinh năm 1999 (vắng mặt).
Địa chỉ: 52 đường số 14A, phường Bình Hưng Hòa A, phường X, Tp. Hồ Chí Minh.
5/ Bà Ngô Thị N, sinh năm 1999 (vắng mặt).
Địa chỉ: 59/2A Đường Đ, Phường R, quận G, Tp. Hồ Chí Minh.
* Nguyên đơn dân sự: Công ty O
Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Ngọc K, sinh năm 1971 (có mặt).
Địa chỉ: 16/44 đường V, Phường E, Quận F, Tp. Hồ Chí Minh.
* Ngƣời có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Bà Trần Thị V, sinh năm 1969 (có mặt).
Địa chỉ: ấp 4, xã T, huyện C, tỉnh Đồng Nai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 21/01/2021, do cần tiền tiêu xài nên Trịnh Trần Phát Đ điều khiển xe mô tô hiệu Honda Wave S, màu đen xám, biển số 60Z6 – 6008 chạy đi tìm các cửa hàng tiện lợi O để thực hiện hành vi cướp tài sản. Khi đi đến gần cửa hàng tiện lợi O tại số 220 Đường N, Phường T, quận P thì Đ dừng lại tháo áo khoác ra lộn bề trái mặc để che dấu đặc điểm. Đến cửa hàng trên, Đ dựng xe phía bên ngoài cửa hàng, lấy con dao đang để trong áo mưa trên ba gác trước xe gắn máy rồi cất dao vào túi quần thun bên trái mà Đ đang mặc đi bộ vào bên trong cửa hàng. Đ giả vờ chọn hàng để quan sát. Lúc này Đ thấy có 02 nhân viên nữ là Nguyễn Hoàng G và Nguyễn Thị K. Đ lầy 01 lon nước ngọt hiệu Sting để trên quầy tính tiền và đi ra ngoài. Khoảng 5 phút sau, Đ bước vào cửa hàng thì thấy bà G đang ngồi tại quầy thu ngân còn bà K thì đang ăn nên Đ rút dao trong túi quần ra cầm trên tay trái đi lại quầy thu ngân chĩa mũi dao về phía bà G làm bà G bị rách da tay trên cổ tay trái chảy máu. Đ quát lớn “im lặng đứng lên đi sát vào góc” thì bà G hoảng sợ hét lên và làm theo yêu cầu của Đ. Bà K nhìn thấy la lên thì Đ bảo “im chưa, không tao đâm bây giờ”. Vừa lúc đó có khách bước vào cửa hàng nên Đ không cướp được tiền, liền bỏ ra ngoài cất dao vào áo mưa và điều khiển xe bỏ đi.
Đến khoảng 02 giờ 20 phút cùng ngày, Đ điều khiển xe đến cửa hàng tiện lợi O tại số 69B Đường V, Phường C, quận Z để cướp tài sản. Đ dựng xe bên ngoài cửa hàng rồi lấy con dao cất vào túi quần thun bên trái đang mặc, bước vào bên trong cửa hàng giả vờ lựa đồ để quan sát, thấy cửa hàng chỉ có 02 nhân viên nữ là Trần Thị M và Ngô Thị N đang làm việc. Đ lấy 01 chai nước uống đóng chai hiệu Good mood đi về phía quầy thu ngân rồi Đ móc dao trong túi quần thun bên trái đang mặc ra cầm trên tay trái chĩa mũi dao về phía bà M và đe dọa “nếu la lên sẽ bị đâm” rồi dồn bà M vào góc hướng hộc tủ đựng tiền tại quầy thu ngân. Khi đó, bà N nhìn thấy la lên thì Đ tiếp tục đe dọa buộc im lặng nếu không sẽ bị đâm. Đ cầm dao yêu cầu bà M đứng sát bên bà N và uy hiếp 02 người phải mở hộc tủ đựng tiền ra. Khi bà N mở được hộc tủ ra thì Đ dùng tay phải lấy 210.000 đồng (tất cả đều mệnh giá 10.000 đồng). Sau khi cướp được tiền Đ bỏ ra ngoài điểu khiển xe máy đến Công viên H, quận Z để thay và vứt bỏ chiếc quần thun dài màu đen đang mặc và lấy quần thu lửng màu đen mặc vào nhằm che giấu tung tích tránh bị phát hiện.
Sau đó, đến khoảng 02 giờ 39 phút cùng ngày, Đ tiếp tục điểu khiển xe gắn máy đến cửa hàng tiện lợi O tại địa chỉ 243 Đường U, Phường D, quận P để cướp tài sản. Khi đến cửa hàng trên, Đ dựng xe bên ngoài cửa hàng rồi Đ lấy dao đang để trong áo mưa ở gác ba ga xe cất vào túi quần thun bên trái đang mặc rồi đi vào trong cửa hàng lấy chai nước suối đi lại quầy thu ngân. Đ dùng tay trái rút dao trong túi quần ra chĩa mũi dao về phía nhân viên nữ Lê Trần T.T uy hiếp và quát lớn “ Mày đứng im, tao không làm gì mày đâu” đồng thời xông vào quầy thu ngân. Bà T sợ hãi ngồi xuống đất sát quầy thu ngân nên Đ dùng tay phải mở hộc đựng tiền ra lấy 1.500.000 đồng. Sau khi lấy được tiền, Đ điều khiển xe gắn máy đến quán cà phê Vợt trên đường Đường U mua cà phê uống rồi cởi áo khoác ra lộn lại bề phải mặc về khu Công viên G chơi điện tử đến khoảng 8 giờ ngày 21/01/2021, Đ chở chị gái là Trịnh Thị Q về nhà tại Đồng Nai. Trên đường đi, Đ đã vứt bỏ con dao sử dụng để gây án tại khu vực trước địa chỉ đường K, phường Đ, thị xã A, tỉnh Bình Dương nên Cơ quan điều tra không thu hồi được.
Qua truy xét, ngày 21/01/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Phú Nhuận đã tiến hành khám xét khẩn cấp tại nơi ở của Đ và thu giữ được các vật chứng có liên quan đến vụ án và mời Đ về làm việc.
Tại Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Phú Nhuận, bị cáo khai nhận: Khoảng 23 giờ ngày 18/01/2021, bị cáo tự ý lấy xe mô tô hiệu Honda Wave S, màu đen xám, biển số 60Z6 – 6008 của mẹ là bà Trần Thị N điều khiển từ Đồng Nai xuống Thành phố Hồ Chí Minh để chơi điện tử. Khi đi đến trước nhà số 263 đường Đ, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh thì bị cáo nhìn thấy trên đường có 01 con dao dài khoảng 15cm, cán màu vàng, đầu nhọn nên Đ nhặt lên và cất dao vào trong áo mưa để phía trước ba ga xe gắn máy. Sau đó, bị cáo điều khiển xe gắn máy đến tiệm điện tử ở khu vực Công viên làng hoa quận G (không rõ địa chỉ) chơi điện tử rồi cùng bạn tên Phúc (không rõ lai lịch) đi ăn uống rồi Phúc về, còn bị cáo tiếp tục chơi điện tử. Trong lúc chơi điện tử này thì có bạn tên S và V (không rõ nhân thân, lai lịch) nhắn tin cho bị cáo qua mạng trò chơi điện tử rồi hẹn nhau đi uống cà phê tại khu vực làng hoa G đến chiều ngày 19/01/2021 thì tất cả chia tay. Đến khoảng 20 giờ ngày 19/01/2021, khi bị cáo đang chơi điện tử thì Khánh và Việt nhắn tin qua mạng trò chơi rủ bị cáo đi Vũng Tàu chơi nhưng bị cáo nói không có tiền nên S và V hỏi bị cáo: “Mày có muốn kiếm tiền không?”, bị cáo trả lời “có” thì S và V bảo bị cáo đi đến các cửa hàng tiện lợi O và tự mình thực hiện hành vi cướp tài sản như đã nêu trên.
Ngày 25/5/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Phú Nhuận đã nhập vụ án “Cướp tài sản” do bị cáo Đ thực hiện tại quận Z vào vụ án “Cướp tài sản” do bị cáo thực hiện tại quận Phú Nhuận để điều tra, truy tố và xét xử chung.
Vật chứng của vụ án: 01 xe gắn máy hiệu Honda Wave S màu đen xám, biển số 60Z6 – 6008; 01 mũ bảo hiểm; 01 áo khoác; 01 áo thun màu trắng; 01 áo thun màu xanh; 01 đôi dép; 01 khẩu T; 01 điện thoại di động hiệu Samsung; 400.000 đồng; 01 chai nước uống hiệu Goodmood; 03 đĩa CD và 01 USB ghi lại hình ảnh các vụ cướp tài sản.
Tại bản cáo trạng số 37/CT – VKS. PN ngày 24 tháng 6 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo Trịnh Trần Phát Đ về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 của Bộ luật hình sự.
Trong phần tranh luận tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận phát biểu và kết luận cáo trạng đã truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91; khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo mức án từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Về xử lý tang vật: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự đề nghị Hội động xét xử tuyên: Trả lại cho bà V 01 (một) xe gắn máy hiệu Honda Wave S, màu đen xám, biển số 60Z6 – 6008; trả lại cho bị cáo 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung; số tang vật còn lại không có giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu hủy.
* Luật sư Huỳnh V.Q phát biểu bào chữa cho bị cáo:
- Thống nhất với tội danh và điều luật mà Viện kiểm sát đã truy tố.
- Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét ý thức phạm tội của bị cáo có phần hạn chế do bị cáo là người chưa thành niên, bị các đối tượng khác xúi giục; hậu quả của vụ án không lớn, số tiền bị cáo chiếm đoạt đã được khắc phục hoàn toàn trả cho Công ty O và được Công ty có đơn bãi nại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, ngoài các tình tiết giảm nhẹ hình phạt như lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát thì đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự là “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại” để giảm cho bị cáo một phần hình phạt, cho bị cáo mức án thấp hơn mức án mà Viện kiểm sát đã đề nghị.
* Đại diện Viện kiểm sát phát biểu tranh luận:
Không chấp nhận lời bào chữa của Luật sư đối với đề nghị áp dụng thêm điểm h khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự vì đây là tội phạm rất nghiêm trọng, bị cáo đã thực hiện xong hành vi phạm tội.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, Luật sư, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên thực hiện là hợp pháp.
. Về hành vi phạm tội của bị cáo, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai nhận: Khoảng thời gian từ 00 giờ 10 phút đến 02 giờ 39 phút ngày 21/01/2021 bị cáo đã có hành vi dùng dao dài khoảng 15cm, cán màu vàng, đầu nhọn (bị cáo khai nhặt được trên đường Phạm Văn Đồng) và lời nói uy hiếp các nhân viên bán hàng tại các cửa hàng tiện lợi O để thực hiện liên tiếp 03 vụ cướp tài sản, cụ thể: Tại số 220 Đường N, Phường T, quận P bị cáo dùng dao và quát lớn “im lặng đứng lên đi sát vào góc”, “im chưa không tao đâm bây giờ” uy hiếp làm Nguyễn Hoàng G và Nguyễn Thị K sợ hãi làm theo. Tuy nhiên, bị cáo chưa kịp yêu cầu đưa tiền thì có khách bước vào nên bị cáo bỏ đi. Quá trình uy hiếp bị cáo làm rách da trên cổ tay trái bà G gây chảy máu; Tại số 69B Đường V, Phường C, quận Z bị cáo chĩa mũi dao về phía Trần Thị M và Ngô Thị N uy hiếp yêu cầu mở hộc tủ đựng tiền, khi bà N mở được học tủ thì bị cáo tự tay chiếm đoạt được 210.000 đồng và tại số 243 Đường U, Phường D, quận P với hành vi tương tự bị cáo mũi dao về phía Lê Trần T.T làm bà T sợ hãi ngồi xuống đất, bị cáo tự dùng tay mở hộc đựng tiền lấy đi 1.500.000 đồng. Tổng cộng số tiền bị cáo cướp được là 1.710.000 đồng. Sau đó bị cáo đi chơi điện tử và về nhà tại Đồng Nai. Trên đường đi bị cáo đã vứt bỏ con dao.
Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với hình ảnh camera lưu giữ lại các cửa hàng tiện lợi O mà bị cáo thực hiện hành vi phạm tội, phù hợp với các chứng cứ khác được thu thập trong quá trình điều tra nên có đủ cơ sở kết luận hành vi dùng dao uy hiếp để chiếm đoạt tài sản như đã nêu trên của bị cáo là phạm vào tội “Cướp tài sản”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật hình sự với tình tiết định khung “Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác”. Do đó, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Phú Nhuận đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Xét, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ:
Về tình tiết giảm nhẹ: Trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo phạm tội lần đầu, có nhân thân tốt chưa tiền án tiền sự; sau khi phạm tội bị cáo và gia đình đã bồi thường khắc phục hậu quả nên được áp dụng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo thực hiện liên tiếp 03 vụ cướp tài sản nên cần áp dụng tình tiết tăng nặng “ phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây hoang mang sợ hãi cho người bị hại nói riêng và quần chúng nhân dân nói chung. Xét, bị cáo tuy tuổi đời còn nhỏ nhưng hành vi phạm tội có sự tính toán, táo bạo và liều lĩnh. Bị cáo có sự chuẩn bị hung khí (dao dài 15cm, mũi nhọn); chọn thời gian đêm khuya ít người qua lại; biết che dấu đặc điểm trước khi phạm tội để tránh bị phát hiện (tháo áo khoác ra thay bề mặt phải sang trái); giả vờ đi mua nước để tiếp cận quầy thu ngân, che biển số xe và tránh chỗ camera quay đến …). Đây là tội phạm cấu thành hình thức, bị cáo đã thực hiện hoàn thành hành vi phạm tội nên không chấp nhận lời bào chữa của Luật sư khi yêu cầu áp dụng tình tiết giảm nhẹ “Phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại” theo điểm h khoản 1 Điều 51 của Bộ luật hình sự để giảm nhẹ thêm cho bị cáo.
Xét, tính đến ngày phạm tội bị cáo mới 16 tuổi 6 tháng 14 ngày, là người chưa thành niên phạm tội nên khi lượng hình cần áp dụng thêm Điều 91, khoản 1 Điều 101 Bộ luật hình sự để định cho bị cáo mức án phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân, các tình tiết tăng nặng giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và các nguyên tắc xử lý đối với người dưới 18 tuổi phạm tội nhằm giáo dục, răn đe và đảm bảo công tác phòng ngừa chung cho xã hội.
. Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo chiếm đoạt của 03 cửa hàng tiện lợi O thuộc sở hữu của Công ty O do các nhân viên Nguyễn Hoàng G, Nguyễn Thị K, Trần Thị M, Ngô Thị N và Trần Thu T là nhân viên thu ngân của cửa hàng ngày 21/01/2021 để chiếm đoạt số tiền 1.710.000 đồng. Bị cáo đã tiêu xài hết 1.310.000 đồng, còn lại 400.000 đồng bị thu giữ. Quá trình điều tra ngày 23/2/2021 gia đình bị cáo đã khắc phục lại số tiền 1.310.000 đồng nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Phú Nhuận đã trả cho phía Công ty O số tiền 1.710.000 đồng. Phía công ty đã nhận lại đầy đủ và có ý kiến xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Do đó, về phần trách nhiệm đã giải quyết xong, Hội đồng xét xử không đề cập giải quyết.
Đối với thương tích của Nguyễn Hoàng G bị chảy máu khi bị bị cáo uy hiếp, chị G đã từ chối đi giám định và cũng không yêu cầu bị cáo phải bồi thường thiệt hại. Xét đây là sự tự nguyện của chị G nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Đối với Nguyễn Thị K, Trần Thị M, Ngô Thị N và Trần Thu T không có ý kiến yêu cầu gì thêm. Xét đây là sự tự nguyện của các bị hại nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
. Về xử lý vật chứng:
- Đối với 01 (một) xe gắn máy hiệu Wave S màu đen xám biển số 60Z6 – 6008, số máy: 43699, số khung 013699 là phương tiện bị cáo sử dụng đi cướp tài sản bị thu giữ. Quá trình điều tra xác minh xác định xe này do bà Trần Thị V (mẹ ruột) của bị cáo đứng tên chủ sở hữu. Bà V khai Đ tự ý lấy sử dụng và đi cướp tài sản bà không được biết. Do đó, bà xin được nhận lại chiếc xe này để bà lấy phương tiện đi lại. Hội đồng xét xử xét thấy lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai của bà V nên chấp nhận, tuyên trả chiếc xe này cho bà V là phù hợp với quy định của pháp luật.
- Đối với 01(một) mũ bảo hiểm màu đen hiệu “Thời trang nón Sơn”; 01 (một) áo khoác dài tay màu đen, có mũ dính liền theo áo, trên áo có in hình mặt chim cú mèo và dòng chữ “Night Hunter”; 01 (một) áo thu màu trắng có in hình bông hoa; 01(một) áo thun màu xanh có chữ “ST”; 01 (một) đôi dép màu đen, trên dép có họa tiết màu trắng; 01 (một) khẩu trang y tế màu xám; 01 (một) chai nước uống hiệu Goodmood là những vật không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
- Đối với 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen có số imei 1: 354556101522442 và số imei 2: 354557101522440, có số sim 0972233033 thu giữ của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo.
Đối với các đối tượng tên S và V do bị cáo khai nhưng không rõ nhân thân, lai lịch nên Cơ quan điều tra không có căn cứ điều tra làm rõ, khi nào có cơ sở sẽ làm rõ xử lý sau.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
[1]. Tuyên bố bị cáo Trịnh Trần Phát Đ phạm tội “Cƣớp tài sản”.
[2]. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 91, khoản 1 Điều 101 của Bộ luật hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Trịnh Trần Phát Đ 04 (Bốn) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 22/01/2021.
[3]. Áp dụng khoản 1, điểm a, c khoản 2; điểm a khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự:
- Tịch thu tiêu hủy:
+ 01(một) mũ bảo hiểm màu đen hiệu “Thời Trang nón Sơn”;
+ 01 (một) áo khoác dài tay màu đen, có mũ dính liền theo áo, trên áo có in hình mặt chim cú mèo và dòng chữ “Night Hunter”;
+ 01 (một) áo thu màu trắng có in hình bông hoa;
+ 01(một) áo thun màu xanh có chữ “ST”;
+ 01 (một) đôi dép màu đen, trên dép có họa tiết màu trắng;
+ 01 (một) khẩu trang y tế màu xám;
+ 01 (một) chai nước uống hiệu Goodmood.
- Trả lại cho bị cáo: 01 (một) điện thoại di động hiệu Samsung màu xanh đen có số imei 1: 354556101522442 và số imei 2: 354557101522440, có số sim 0972233033.
- Trả lại cho bà Trần Thị V: 01 (một) xe gắn máy hiệu Wave S màu đen xám biển số 60Z6 – 6008, số máy: 43699, số khung 013699.
(Theo biên bản về việc giao, nhận vật chứng, tài sản ngày 30/6/2021 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Phú Nhuận, Tp. Hồ Chí Minh).
[4]. Về án phí: áp dụng khoản 2 điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án buộc bị cáo Trịnh Trần Phát Đ phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.
[5]. Quyền kháng cáo:
Bị cáo, bà V, Luật sư có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày Tòa tuyên án để xin xét xử phúc thẩm.
Người bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - VKSND Q. Phú Nhuận; - Thi hành án Q. Phú Nhuận; - Công an Q. Phú Nhuận; - P.PC27-CATP; - Sở Tư pháp Tp. HCM; - Lưu hồ sơ | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Mai Thùy |