vanban.org

Bản án 40/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh Tuyên án 10/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc B phạm các tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, Khoản 1 Điều 174, Điểm g Khoản 1 Điều 52, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc B 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản và 12 (mười hai) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Nguyễn Ngọc B phạm tội Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc B phạm các tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 12 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐỨC THỌ
TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2021/HS-ST
Ngày: 10/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC THỌ - TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Việt Thắng.

Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Quý Hưởng và ông Lê Như Long.

Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Phan Thị Thanh Tâm - Thư ký Tòa án.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ tham gia phiên tòa: Ông Lê Hồng Phúc - Kiểm sát viên.

Trong ngày 10/11/2021 tại phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ, tỉnh Hà Tĩnh mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 43/2021/TLST - HS ngày 19/10/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2021/QĐXXST - HS, ngày 26 tháng 10 năm 2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Nguyễn Ngọc B, tên gọi khác: Không; giới tính: Nam. Sinh ngày 09 tháng 11 năm 2002. Nơi sinh: Xã ĐL, huyện VQ, tỉnh Hà Tĩnh. Nơi cư trú: Thôn TS, xã ĐL, huyện VQ, tỉnh Hà Tĩnh. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 09/12. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Con ông: Không xác định. Con bà: Nguyễn Thị N, sinh năm 1959. Nghề nghiệp: Làm ruộng. Hiện trú tại thôn TS, xã ĐL, huyện VQ, tỉnh Hà Tĩnh. Vợ, con: Chưa có. Anh, chị em ruột không có, bị cáo là con duy nhất trong gia đình.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 23/9/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày 03/11/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ xử phạt 05 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt chung là 09 tháng tù. Ngày 25/5/2021, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù (Bị cáo thuộc trường hợp được coi là không có án tích).

Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, tạm hoãn xuất cảnh từ ngày 01/7/2021 cho đến ngày 01/9/2021 tại xã ĐL, huyện VQ, tỉnh Hà Tĩnh. Đến ngày 01/9/2021 thay đổi biện pháp ngăn chặn sang bắt bị cáo để tạm giam từ ngày 01/9/2021 đến nay tại Trại tạm giam Công an tỉnh Hà Tĩnh, có mặt tại phiên tòa, sức khỏe bình thường.

- Bị hại:

1. Anh Nguyễn Xuân P, sinh năm 2002, địa chỉ: Thôn 4, xã ĐB, huyện VQ, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt.

2. Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1993, địa chỉ: Tổ dân phố TY, phường KT, Thị xã KA, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.

3. Anh Nguyễn Ngọc A, sinh năm 1999, địa chỉ: Tổ dân phố TA, phường ĐT, Thị xã HL, tỉnh Hà Tĩnh. Nghề nghiệp: Lao động tự do. Có mặt.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

1. Anh Nguyễn Văn Ơ, sinh năm 1992, địa chỉ: Tổ dân phố 6, phường NH, Thị xã HL, tỉnh Hà Tĩnh, Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.

2. Anh Đặng Công L, sinh năm 1972, địa chỉ: Thôn LT, xã KL, huyện KA, tỉnh Hà Tĩnh, Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.

3. Anh Phạm Tuấn A, sinh năm 1991, địa chỉ: Khối 4, Thị Trấn TL, huyện QC, tỉnh Nghệ An, Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.

4. Anh Trần Thái S, sinh năm 1991, địa chỉ: Tổ dân phố 1, phường NH, Thị xã HL, tỉnh Hà Tĩnh, Nghề nghiệp: Lao động tự do. Vắng mặt.

- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Ngọc B: Ông Võ Quốc H, sinh năm 1985; nơi công tác: Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Hà Tĩnh. Địa chỉ: 103A, đường PĐP, thành phố HT, tỉnh Hà Tĩnh. Có mặt.

- Người làm chứng:

1. Chị Trần Thị Phương T, sinh năm 2001, trú tại: Thôn LS, xã TD, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

2. Ông Trần Đình H, sinh năm 1971, trú tại: Thôn LS, xã TD, huyện ĐT, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

3. Ông Nguyễn Ngọc L, sinh năm 1961, địa chỉ: Tổ dân phố TA, phường ĐT, Thị xã HL, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

4. Bà Bùi Thị N, sinh năm 1968, địa chỉ: Tổ dân phố TA, phường ĐT, Thị xã HL, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

5. Anh Nguyễn Thành C, sinh năm 1998, địa chỉ: Tổ dân phố PS, phường TL, Thị xã HL, tỉnh Hà Tĩnh. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 08 giờ ngày 14/6/2021, Nguyễn Ngọc B đi đến nhà anh Nguyễn Xuân P để chơi. Đến khoảng 10 giờ cùng ngày, anh P điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng xanh, biển kiểm soát 37G1-039.69 chở B xuống nhà bố vợ là ông Trần Đình H. Sau đó, anh P cùng B đi đến nhà một người bạn của anh P tên là H để uống riệu. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, do anh P uống riệu say nên B cầm điện thoại Iphone XS Max của anh P và điều khiển xe mô tô của anh P đi về nhà ông H và nói với vợ của anh P là chị Trần Thị Phương T “P uống say đang nằm ở bên nhà H”. Nghe B nói vậy, ông H điều khiển xe mô tô của mình chở theo chị T, còn B điều khiển xe mô tô của anh P đi đến nhà H để chở P về nhà. Sau khi chở anh P về tại nhà bố vợ của anh P thì B nảy sinh ý định lấy trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng xanh, biển kiểm soát 37G1-039.69 và 01 chiếc điện thoại Iphone XS Max của anh P. Sau đó, B bỏ chiếc điện thoại Iphone XS Max đã cầm trước đó của anh P vào túi và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng xanh, biển kiểm soát 37G1-039.69 đi xuống Thị xã HL, tỉnh Hà Tĩnh đến quán sửa chữa xe máy của anh Nguyễn Văn Ơ, B bán chiếc điện thoại Iphone XS Max với giá 2.500.000 đồng. Sau đó B điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng xanh, biển kiểm soát 37G1-039.69 của anh P đi vào phường KL, thị xã KA, tỉnh Hà tĩnh bán chiếc xe trên cho một người đàn ông tên T với giá 3.000.000 đồng. Số tiền bán được B đã tiêu xài vào mục đích cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 11/KLĐGTS–HĐĐGTS ngày 01/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện ĐT, kết luận:

- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng xanh, biển kiểm soát 37G1-039.69. Trị giá 15.000.000 đồng.

- 01 chiếc điện thoại Iphone XS Max (thay vỏ Iphone 12), màu ghi, dung lượng bộ nhớ 64GB đã qua sử dụng. Trị giá 6.000.000 đồng.

Tổng cộng hai loại tài sản trên trị giá là: 21.000.000 đồng.

Quá trình điều tra bị cáo Nguyễn Ngọc B còn khai nhận và Cơ quan điều tra đã chứng minh được, vào ngày 17/6/2021, B đã thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn phường KT, thị xã KA, tỉnh Hà Tĩnh và vào ngày 27/6/2021, B đã thực hiệnh hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn phường ĐT, thị xã HL, tỉnh Hà Tĩnh, cụ thể:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 17 giờ ngày 17/6/2021, B đến nhà anh Nguyễn Văn H để chơi. Sau đó, B đi lên nhà em trai của anh Nguyễn Văn H cách đó 300m để ăn tối. Đến khoảng 22 giờ 30 phút cùng ngày, sau khi ăn tối xong B đi về nhà anh H để nghỉ ngơi, khi lên giường nằm thì B để ý thấy chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển kiểm soát 38K1-309.80 của anh H đang để ngoài sân nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. B dứng dậy đi ra ngoài sân thì bắt gặp anh H, B nói “Cho em mượn xe ra đây tý”, anh H đồng ý và nói “Đi nhanh rồi về”. B lấy chìa khóa mở khóa và điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển kiểm soát 38K1-309.80 của anh H đi ra đường quốc lộ 1A và về thị xã HL, tỉnh Hà Tĩnh. B điều khiển xe đi đến cửa hàng sửa chữa xe máy của anh Nguyễn Văn Ơ và bán chiếc xe mô tô Yamaha Exciter màu xanh trắng, biển kiểm soát 38K1-309.80 vừa mới chiếm đoạt được cho anh Ơ với giá 5.000.000 đồng. Số tiền bán được B đã tiêu xài vào mục đích cá nhân hết.

Tại Kết luận định giá tài sản số 13/KLĐGTS–HĐĐGTS ngày 13/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND huyện Đức Thọ, kết luận:

- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter 150, sơn màu xanh trắng, sản xuất năm 2015, biển kiểm soát 38K1-309.80. Trị giá 19.000.000 đồng.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 03 giờ ngày 27/6/2021, Nguyễn Ngọc B đến nhà anh Nguyễn Ngọc A để xin ngủ nhờ. Sau khi ngủ dậy và ngồi chơi tại nhà anh A, đến khoảng 17 giờ cùng ngày, B quan sát thấy trên giường của anh A có 03 chiếc điện thoại và ngoài sân có 01 chiếc mô tô nhãn hiệu Yamaha, loại Exciter, màu đen đỏ, biển kiểm soát 38C1-203.33 đang dựng ở sân nên nảy sinh ý định chiếm đoạt các tài sản nói trên. Đến khoảng 18 giờ cùng ngày, lợi dụng lúc anh A đi tắm, B lấy trộm 02 chiếc điện thoại Iphone và Oppo đang để ở giường của anh A cho vào túi quần bên trái, sau đó B dùng tay phải cầm chiếc điện thoại Redmi, tay trái cầm chìa khóa xe mô tô đi ra sân để lấy trộm xe mô tô. Khi đi ra sân, B nhìn thấy bà Bùi Thị N là mẹ của anh A đang ở phòng bếp nên B bỏ chìa khóa xe vào túi quần để tránh việc bà N phát hiện. Sau đó, B đi đến chiếc xe mô tô đang dựng ở sân, quan sát thấy không có ai nên B cho chìa khóa xe vào ổ khóa rồi đẩy chiếc xe mô tô ra gần cổng, nổ máy chạy ra đường quốc lộ 8A đi vào thành phố HT, tỉnh Hà Tĩnh. Do không có chỗ nào bán và cầm cố tài sản nên B đã nhắn tin cho anh A yêu cầu chuyển số tiền 3.000.000 đồng sẽ trả lại tài sản và hẹn gặp anh A tại vòng xuyến thuộc phường TP, thành phố HT, tỉnh Hà Tĩnh. Đến khoảng 3 giờ ngày 28/6/2021 B đến địa điểm hẹn để trả xe, điện thoại và nhận tiền từ anh A thì thấy anh Ngọc A đi cùng với anh Nguyễn Thành C nên B đã điều khiển xe mô tô bỏ chạy. Thấy vậy, Anh A liền nhảy ra chặn xe của B lại khiến cả hai bị tai nạn phải đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Hà Tĩnh.

Tại Kết luận định giá tài sản số 10/KLĐGTS–HĐĐGTS và kết luận định giá tài sản số 11/KLĐGTS–HĐĐGTS ngày 15/7/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Thị xã Hồng Lĩnh, kết luận:

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 7A, màu xanh trị giá 500.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A37FW, màu bạc, đã bị hỏng trị giá 200.000 đồng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc đã bị hư hỏng trị giá 100.000 đồng;

- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu đen đỏ, biển kiểm soát 38C1-203.33 trị giá 21.000.000 đồng.

Tổng giá trị các loại tài sản trên là: 21.800.000 đồng.

* Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường gì.

* Vật chứng thu giữ:

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone XS Max, màu đen và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, sơn màu xanh trắng, biển kiểm soát 38K1-309.80 (Thu giữ từ anh Nguyễn Văn Ơ).

- 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu trắng xanh, biển kiểm soát 37G1-039.69 (Thu giữ từ anh Nguyễn Xuân P).

- 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 7A, màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A37FW, màu bạc, đã bị hỏng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc đã bị hư hỏng và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu đen đỏ, biển kiểm soát 38C1-203.33 (Thu giữ từ bị cáo Nguyễn Ngọc B).

Tại bản Cáo trạng số 44/CT- VKS- ĐT ngày 15 tháng 10 năm 2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ truy tố bị cáo Nguyễn Ngọc B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát vẫn giữ nguyên nội dung bản cáo trạng truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Áp dụng Khoản 1 Điều 173, Điểm g Khoản 1 Điều 52, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc B mức án từ 24 tháng đến 30 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo 01/9/2021.

Áp dụng Khoản 1 Điều 174, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự đề nghị xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc B mức án từ 12 đến 15 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo 01/9/2021.

Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường gì nên miễn xét.

Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng: Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, Điểm a,b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự đề nghị: Truy thu sung công Nhà nước từ bị cáo Nguyễn Ngọc B số tiền 10.500.000 đồng là tiền do thực hiện hành vi phạm tội mà có.

Quá trình điều tra xác định được chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter 135, màu xanh trắng, biển kiểm soát 37G1-039.69 và chiếc Iphone XS Max, màu đen là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Xuân P; Chiếc xe mô tô nhãn hiệu nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter 150, sơn màu xanh trắng, biển kiểm soát 38K1-309.80 là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Văn H; chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 7A, màu xanh, chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A37FW, màu bạc, đã bị hỏng và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc đã bị hư hỏng là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Ngọc A. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại số tài sản trên cho các chủ sở hữu là đúng quy định của pháp luật.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu đen đỏ, biển kiểm soát 38C1-203.33 quá trình điều tra xác định anh Nguyễn Ngọc A mua lại của anh Trần Thái S và anh Trần Thái S mua lại của anh Lê Hoài N. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành làm việc với anh Lê Hoài N. Tuy nhiên, anh Lê Hoài N không có mặt tại địa phương và đi làm ăn ở tình Thừa Thiên Huế, do điều kiện dịch covid 19 nên chưa thể tiến hành làm việc được với anh Lê Hoài N nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành tách vật chứng là chiếc xe mô tô nêu trên và xử lý sau.

Về án phí: Áp dụng Khoản 1, 2 Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 6, Khoản 1 Điều 21, Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm chị bị cáo do gia đình bị cáo thuộc diện hộ cận nghèo.

Tại phiên tòa, Người bào chữa cho bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét hoàn cảnh gia đình của bị cáo thuộc hộ cận nghèo, từ khi sinh ra cho đến nay thiếu sự chăm sóc, giáo dục của người cha và áp dụng các tình tiết giảm nhẹ cho bị cáo hưởng mức án thấp nhất để bị cáo sớm có điều kiện trở thành người có ích cho gia đình và xã hội.

Bị hại có mặt tại phiên tòa không có ý kiến gì.

Bị cáo nói lời sau cùng thừa nhận hành vi phạm tội của mình, không có tranh luận gì với luận tội của đại diện Viện kiểm sát và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo mức án thấp nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Tòa án nhận định như sau:

. Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Thọ, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Thọ, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan và người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa vắng mặt một bị hại, tất cả người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và người làm chứng nhưng xét thấy họ đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ và việc vắng mặt của họ không làm cản trở việc xét xử, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 292, 293 Bộ luật Tố tụng hình sự quyết định xét xử vụ án.

. Về tình tiết định tội, định khung hình phạt:

Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội của mình và thừa nhận cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là đúng pháp luật.

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của những người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, tang vật thu hồi và các tài liệu, chứng cứ có tài hồ sơ đã được thẩm tra tại phiên tòa. Vì vậy, có đủ cơ sở khẳng định trong khoảng thời gian từ ngày 14/6/2021 đến ngày 27/6/2021, Nguyễn Ngọc B đã lợi dụng sự sơ hở của chủ sở hữu tài sản 02 lần lén lút thực hiện hành vi trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện Đức Thọ và thị xã Hồng Lĩnh với tổng trị giá tài sản chiếm đoạt là 42.800.000 đồng, thu lợi bất chính số tiền 5.500.000 đồng; 01 lần lợi dụng sự tin tưởng của chủ sở hữu tài sản thực hiện hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản trên địa bàn thị xã Kỳ Anh với giá trị tài sản chiếm đoạt là 19.000.000 đồng, thu lợi bất chính số tiền 5.000.000 đồng, gồm của các bị hại sau:

- Anh Nguyễn Xuân P, địa chỉ: Thôn 4, xã ĐB, huyện Vq, tỉnh Hà Tĩnh 01 chiếc điện thoại Iphone XS Max và 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng xanh, biển kiểm soát 37G1-039.69. Tổng trị giá 21.000.000 đồng.

- Anh Nguyễn Văn H, địa chỉ: Tổ dân phố TY, phường KT, Thị xã KA, tỉnh Hà Tĩnh 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter 150, sơn màu xanh trắng, biển kiểm soát 38K1-309.80. Trị giá 19.000.000 đồng.

- Anh Nguyễn Ngọc A, địa chỉ: Tổ dân phố TA, phường ĐT, Thị xã HL, tỉnh Hà Tĩnh 03 chiếc điện thoại di động (01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 7A, màu xanh; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A37FW, màu bạc, đã bị hỏng; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc đã bị hư hỏng) và 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu đen đỏ, biển kiểm soát 38C1-203.33. Tổng trị giá: 21.800.000 đồng.

Khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đủ tuổi, đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ ràng hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã phạm các tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 174 Bộ luật Hình sự. Việc xét xử bị cáo theo các tội danh và điều luật như quan điểm truy tố của Viện kiểm sát truy tố là đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

. Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Đối với tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Còn đối với tội “Trộm cắp tài sản” bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại Điểm g Khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.

. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo khai báo thành khẩn nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại Điểm s Khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.

. Quyết định hình phạt:

Các hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ và lợi dụng sự tin tưởng của người khác để lừa đảo để chiếm đoạt tài sản. Các hành vi đó không chỉ gây ra thiệt hại về mặt vật chất của bị hại mà còn gây ảnh hưởng đến an ninh, trật tự trên địa bàn các huyện, thị trong tỉnh. Bị cáo là người có nhân thân xấu: Ngày 23/9/2020, bị Tòa án nhân dân thành phố Hà Tĩnh xử phạt 04 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Ngày 03/11/2020, bị Tòa án nhân dân huyện Đức Thọ xử phạt 05 tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 174 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt chung là 09 tháng tù. Ngày 25/5/2021, bị cáo chấp hành xong hình phạt tù (khi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi nên thuộc trường hợp được coi là không có án tích).

Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật, bị cáo đã bất chấp tất cả, coi thường pháp luật để trộm cắp tài sản và lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, cần lên mức án tương xứng với hành vi, hậu quả mà bị cáo đã gây ra và cách ly ra khỏi đời sống xã hội một thời gian như Kiểm sát viên đề nghị là phù hợp, để cải tạo, giáo dục bị cáo và đấu tranh phòng ngừa tội phạm.

Về trách nhiệm dân sự:

Sau khi nhận lại tài sản, người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không có yêu cầu bồi thường gì nên miễn xét.

. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

Quá trình điều tra xác định được chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter 135, màu xanh trắng, biển kiểm soát 37G1-039.69 và chiếc Iphone XS Max, màu đen là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Xuân P; Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter 150, sơn màu xanh trắng, biển kiểm soát 38K1-309.80 là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Văn H chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Redmi 7A, màu xanh, chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A37FW, màu bạc, đã bị hỏng và chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 6 màu bạc đã bị hư hỏng là tài sản thuộc quyền sở hữu của anh Nguyễn Ngọc A. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại số tài sản trên cho các chủ sở hữu theo quy định của pháp luật nên Hội đồng xét xử miễn xét.

Đối với chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu đen đỏ, biển kiểm soát 38C1-203.33 quá trình điều tra xác định anh Nguyễn Ngọc A mua lại của anh Trần Thái S và anh Trần Thái S mua lại của anh Lê Hoài N. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành làm việc với anh Lê Hoài N. Tuy nhiên, anh Lê Hoài N không có mặt tại địa phương và đi làm ăn ở tình Thừa Thiên Huế, do điều kiện dịch covid 19 nên chưa thể tiến hành làm việc được với anh Lê Hoài N nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành tách vật chứng là chiếc xe mô tô nêu trên và xử lý sau nên Hội đồng xét xử không xem xét, đánh giá.

Truy thu sung công Nhà nước từ bị cáo Nguyễn Ngọc B số tiền 10.500.000 đồng là tiền do thực hiện hành vi phạm tội mà có.

. Về xem xét trách nhiệm của người liên quan:

Trong vụ án này, anh Nguyễn Văn Ơ là người đã mua chiếc điện thoại Iphone XS Max do Nguyễn Ngọc B trộm cắp tài sản mà có và chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha, số loại Exciter, màu xanh trắng, biển kiểm soát 38K1-309.80, do Nguyễn Ngọc B lừa đảo chiếm đoạt tài sản mà có. Tuy nhiên, khi mua các loại tài sản trên, anh Ơ không biết là do B phạm tội mà có nên không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Đối với người đàn ông tên Thắng ở phường KT, thị xã KA mà Nguyễn Ngọc B khai đã bán chiếc xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Exciter màu trắng xanh, biển kiểm soát 37G1-039.69, do chưa đủ thông tin về nhân thân, lai lịch nên chưa có căn cứ xử lý, Cơ quan điều tra Công an huyện Đức Thọ đã tách ra tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau theo quy định của pháp luật.

. Về án phí sơ thẩm và quyền kháng cáo: Bị cáo thuộc hộ cận nghèo nên được miễn án phí hình sự sơ thẩm; bị cáo, người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Ngọc B phạm các tội “Trộm cắp tài sản” và tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Áp dụng: Khoản 1 Điều 173, Khoản 1 Điều 174, Điểm g Khoản 1 Điều 52, Điểm s Khoản 1 Điều 51, Điều 55, Điều 38 Bộ luật hình sự.

Xử phạt bị cáo Nguyễn Ngọc B 24 (hai mươi bốn) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản và 12 (mười hai) tháng tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”.

Tổng hợp hình phạt chung của hai tội là 36 (ba mươi sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam bị cáo 01/9/2021.

2. Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điểm b Khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, Điểm a, b Khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:

Truy thu sung công Nhà nước từ bị cáo Nguyễn Ngọc B số tiền 10.500.000 đồng (Mười triệu năm trăm ngàn đồng).

3. Về án phí: Áp dụng Khoản 1, 2 Điều 135 Bộ luật tố tụng Hình sự; Điểm a Khoản 1 Điều 3, Khoản 1 Điều 6, Khoản 1 Điều 21, Điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về án phí lệ phí Tòa án miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Nguyễn Ngọc B.

4. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, 333 Bộ luật Tố tụng hình sự: Bị cáo, bị hại được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10/11/2021). Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo toàn bộ nội dung bản án, Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết./.

Cỡ chữ