vanban.org

Bản án 40/2021/HSST — Hình sự

TAND huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk Tuyên án 30/11/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lý Văn L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án. Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Bị cáo Lý Văn Long phạm tội "Trộm cắp tài sản" - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CƯ KUIN
TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2021/HSST
Ngày 30/11/2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CƯ KUIN, TỈNH ĐẮK LẮK

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Huỳnh Thành

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Phan Thị Thiện.

2. Ông Bạch Đình Ca.

Thư ký phiên tòa: Bà Đỗ Thị Hạnh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk tham gia phiên tòa: Bà Hà Thanh Hằng - Kiểm sát viên.

Ngày 30/11/2021, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 42/2021/HSST, ngày 04/11/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2021/QĐXX-HS ngày 13/11/2021 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lý Văn L. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam.

Sinh ngày: 21/9/2000, tại tỉnh Hưng Yên;

Nơi cư trú: Thôn x, xã C, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

Quốc tịch: Việt Nam.

Dân tộc: Kinh. Tôn giáo: Không;

Nghề nghiệp: Không ổn định.

Chức vụ: Không. Trình độ học vấn: 9/12.

Họ và tên cha: Lý Văn C, sinh năm 1974, họ và tên mẹ: Đỗ Thị H, sinh năm 1976. Hiện đang cư trú tại: Thôn x, xã C, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú – (có mặt).

* Người bị hại:

1. Ông Lý Văn C, sinh năm: 1974. Địa chỉ: Thôn x, xã C, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk – (vắng mặt).

2. Ông Y B, sinh năm: 1984. Địa chỉ: Thôn x, xã C, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk – (vắng mặt).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Y PÊ. Địa chỉ: Thôn x, xã C, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk – (vắng mặt).

2. Ông Đinh Duy L. Địa chỉ: Thôn y, xã E, huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk – (vắng mặt).

3. Ông Hữu Việt T. Địa chỉ: Thôn z, xã H, thành phố Buôn Ma Thuột, tỉnh Đắk Lắk – (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào tối ngày 21/7/2021, Lý Văn L cùng Hoàng Thị HT là bạn gái của L (chưa xác định được nhân thân, lai lịch) đến nhà trông rẫy của anh Lưu Minh T, ở tại Thôn x, xã C, huyện Cư Kuin để chơi và ngủ lại. Đến khoảng 05 giờ 45 phút ngày 22/7/2021, khi L ngủ dậy thì nhìn thấy anh Y PÊ đến nhà rẫy của anh Tr có mang theo một điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Red 6, màu trắng và một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia C20 Plus, màu đen (hai máy điện thoại này là của ông Y BÊ là bố đẻ của anh Y Ph) để sạc nhờ điện thoại, lúc này anh Y Ph cắm sạc gần cửa nhà rẫy rồi rời đi. Thấy vậy, L đã rút dây xạc khỏi điện thoại, lấy hai máy điện thoại di động này và bỏ vào túi quần, sau đó gọi Tr dậy và điều khiển xe mô tô, không nhớ biển số, đặc điểm (xe mượn của bạn mới quen, không xác định được địa chỉ, nhân thân) chở Tr đi đến ngã ba Ea Sim, thuộc thôn y, xã E, huyện Cư Kuin để Tr đi chơi với bạn, còn L đi về nhà rồi trả xe cho bạn. Đến khoảng 08 giờ ngày 23/7/2021, L mang điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Red 6A, màu trắng đến bán cho ông Hữu Việt T, là chủ tiệm điện thoại di động "T" tại số x, đường N, xã H, thành phố Buôn Ma Thuột với giá 200.000 đồng và tiếp tục mang một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia C20 plus, màu đen, bán tại một tiệm điện thoại di động tại khu vực trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột (không xác định được địa chỉ) bán được số tiền 300.000 đồng.

Ngoài vụ trộm cắp tài sản nêu trên, Lý Văn L còn thực hiện thêm hai vụ trộm cắp tài sản nữa, cụ thể như sau:

Vụ thứ nhất: Vào khoảng 16 giờ 00 phút ngày 04/8/2021, Lý Văn L trộm cắp một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20s, màu xanh của ông Lý Văn C (là bố đẻ của Lý Văn L) đang xạc pin tại phòng khách của nhà ông C, thì bị phát hiện nên L đã trả lại cho ông Lý Văn C.

Vụ thứ hai: Vào khoảng 08 giờ 00 phút ngày 13/8/2021, lợi dụng không có ai ở nhà nên Lý Văn L đã trộm cắp tài sản của ông Lý Văn C gồm: Một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20s, màu xanh đang để tại phòng khách và một cái ví da đang để ở trong tủ quần áo phòng ngủ. Lấy xong, Lý Văn L bỏ điện thoại và ví da vào túi quần rồi rời khỏi nhà đi đến khu vực thôn 10, xã Ea Ktur, huyện Cư Kuin. Tại đây L mở ví da ra kiểm tra thì phát hiện bên trong chỉ có giấy tờ, không có tiền hay tài sản gì khác nên đã vứt ví xuống mương thoát nước bên lề đường, rồi bỏ giấy tờ vào túi quần. Sau đó đem điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20s, màu xanh bán cho ông Đinh Duy L, là chủ tiệm điện thoại di động GT, thuộc thôn x, xã E, huyện Cư Kuin được số tiền 600.000 đồng. Đến ngày 14/8/2021, hành vi trộm cắp tài sản của Lý Văn L bị phát hiện nên ngày 15/8/2021, Lý Văn L đến tiệm điện thoại GT chuộc lại điện thoại di động Samsung Galaxy A20s, màu xanh với giá 700.000đ và đem các giấy tờ gồm 02 giấy phép lái xe, 01 giấy chứng nhận đăng ký xe mô tô cùng mang tên Lý Văn C, một sổ hộ khẩu của hộ ông Lý Văn C trả lại toàn bộ cho ông C.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 19/KL-HĐĐGTS ngày 09/9/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng huyện Cư Kuin đã kết luận: Một điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Red 6A, màu trắng có giá trị vào thời điểm định giá ngày 22/7/2021 là 1.581.000 đồng, một điện thoại di động nhãn hiệu Nokia C20 plus, màu đen có giá trị vào thời điểm định giá ngày 22/7/2021 là 1.748.000 đồng, một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20s, màu xanh có giá trị vào thời điểm định giá ngày 04/8/2021 và ngày 13/8/2021 là 1.915.000đ; một ví da màu nâu không rõ nhãn hiệu: không đủ điều kiện cần thiết để định giá.

Quá trình điều tra, bị cáo Lý Văn L đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với lời khai của người bị hại, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Ta ̣i bản cáo tra ̣ng số: 38/CT-VKS-HS ngày 29/10/2021 của Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk truy tố bi ̣ cáo Lý Văn L về tô ̣i “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1, Điều 173 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự̀

.

Ta ̣i phiên tòa, đa ̣i diê ̣n Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin vẫn giữ nguyên quyết đi ̣nh truy tố đối với bị cáo Lý Văn L và đề nghi ̣ Hô ̣i đồng xét xử tuyên bố: Bị cáo Lý Văn L pha ̣m tô ̣i “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự̀

và áp du ̣ng điểm h, i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự để xử pha ̣t bi ̣ cáo Lý Văn L từ 09 đến 12 tháng tù.

* Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

- Về xử lý vật chứng: Chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Cư Kuin đã có Quyết định xử lý vật chứng, trao trả cho ông Lý Văn C là chủ sở hữu hợp pháp 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A20S, màu xanh, số IMEI 1: 358244108146798, số IMEI 2: 358245108146795 (có biên bản giao trả lưu trong hồ sơ vụ án), vì vậy không đặt ra để giải quyết.

- Về bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Lý Văn L, bồi thường cho ông Y BÊ số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng);

Truy thu sung công quỹ nhà nước số tiền 500.000 đồng, do Lý Văn L bán 02 chiếc điện thoại mà có.

Tại phiên tòa, bị cáo Lý Văn L khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như cáo trạng mà Viện kiểm sát truy tố, bị cáo không tranh luận gì với đại diện Viện kiểm sát.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Lời khai nhận tội của bi ̣ cáo tại phiên tòa, phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với người biết sự việc và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác đã được thu thập có trong hồ sơ vụ án.

Như vậy, có đủ căn cứ để kết luận: Do ý thức coi thường pháp luật, quyền sở hữu tài sản của người khác. Nên vào khoảng 5 giờ 45 phút ngày 21/7/2021, Lý Văn L đã thực hiện hành vi trộm cắp 02 chiếc điện thoại di động của ông Y BÊ, trị giá 3.329.000 đồng để bán lấy tiền tiêu xài. Ngoài lần trộm cắp trên, trong quá trình điều tra Lý Văn L khai nhận: Vào ngày 04/8/2021, Lý Văn L trộm cắp một điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20s của ông Lý Văn C (là bố đẻ của Lý Văn L) đang xạc pin tại phòng khách của nhà ông C trị giá 1.915.000 đồng, bị phát hiện nên L đã trả lại cho ông Lý Văn C. Vào ngày 13/8/2021, Lý Văn L tiếp tục trộm cắp của ông Lý Văn C 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20s, trị giá 1.915.000 đồng để bán lấy tiền tiêu xài. Tổng cộng giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt là 7.159.000 đồng, nên bị Viê ̣n kiểm sát nhân dân huyện Cư Kuin, tỉnh Đắk Lắk truy tố bi ̣ cáo Lý Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bô ̣ luâ ̣t hinh sự̀

là có căn cứ pháp luâ ̣t.

Điều 173 Bộ Luật hình sự quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

….…

Xét tính chất mức độ phạm tội của bị cáo, mặc dù hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, nhưng hành vi phạm tội của bị cáo đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu về tài sản của người khác và được pháp luật bảo vệ. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ nhận thức để biết rõ việc làm của mình là vi phạm pháp luật. Thế nhưng do động cơ tư lợi, lười lao động, coi thường pháp luật, muốn thỏa mãn cho nhu cầu của bản thân nên bị cáo đã cố ý thực hiện hành vi phạm tội. Vì vậy khi lượng hình, cần áp dụng mức hình phạt tương ứng với tính chất mức độ do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra, cần thiết phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người lương thiện và góp phần răn đe, phòng ngừa chung trong toàn xã hội.

Tuy nhiên sau khi phạm tội, bị cáo thành khẩn khai báo hành vi phạm tội của mình, có thái độ ăn năn hối cải, nhân thân chưa có tiền án, tiền sự, tài sản trộm cắp không lớn. Vì vậy, khi quyết định mức hình phạt, cần được xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định, nhằm thể hiện chính sách khoan hồng, nhân đạo của pháp luật.

Đối với chị Hoàng Thị HT (là bạn gái của Lý Văn L), cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Kuin đã tiến hành xác minh, nhưng không có người nào có nhân thân như trên. Đồng thời khi thực hiện hành vi phạm tội, L không nói cho Tr biết hành vi trộm cắp của mình, nên không đề cập xử lý Tr là phù hợp.

Đối với ông Hữu Việt T và ông Đinh Duy L là những người mua tài sản từ Lý Văn L gồm: 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Red 6A, màu trắng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy A20s, màu xanh. Khi mua các điện thoại trên, ông Hữu Việt T và ông Đinh Duy L không biết nguồn gốc tài sản là do Lý Văn L phạm tội mà có, nên cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Cư Kuin không đề cập xử lý là phù hợp.

Đối với xe mô tô mà bị cáo Lý Văn L sử dụng để đi bán điện thoại nhưng không nhớ biển số, đặc điểm, đồng thời không phải là phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cơ quan Cảnh sát điều tra không đề cập xử lý đối với xe mô tô là phù hợp.

Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

* Về vật chứng của vụ án: Chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Cư Kuin đã có Quyết định xử lý vật chứng, trao trả cho ông Lý Văn C là chủ sở hữu hợp pháp 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A20S, màu xanh, số IMEI 1: 358244108146798, số IMEI 2: 358245108146795 (có biên bản giao trả lưu trong hồ sơ vụ án), vì vậy không đặt ra để giải quyết.

Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Red 6A màu trắng, sau khi mua từ Lý Văn L, ông Hữu Việt T đã tháo rời các bộ phận, linh kiện của điện thoại, không xác định được đang ở đâu, nên không thu giữ được. Đối với điện thoại di động nhãn hiệu Nokia C20 plus màu đen, Lý Văn L đem bán tại một tiệm điện thoại di động tại khu vực trung tâm thành phố Buôn Ma Thuột và một ví da nam Lý Văn L đã vứt xuống mương thoát nước bên lề đường, không xác định được địa chỉ cụ thể. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã tiến hành truy tìm, nhưng không thu giữ được. Vì vậy, không có cơ sở đặt ra để giải quyết.

* Về bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra, ông Lý Văn C không yêu cầu Lý Văn L bồi thường về mặt dân sự, nên không đề cập giải quyết.

Đối với ông Y BÊ, yêu cầu bị cáo bồi thường trị giá chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Red 6A, màu trắng và một điện thoại đi động nhãn hiệu Nokia C20 Plus, màu đen trị giá 2.000.000 đồng. Vì vậy, buộc bị cáo phải bồi thường.

Đối với số tiền 500.000 đồng mà bị cáo Lý Văn L đã bán 02 chiếc điện thoại của ông Y BÊ sử dụng tiêu xài cá nhân. Vì vậy cần truy thu số tiền trên, để sung công quỹ nhà nước.

Về á n phi: Bi ̣ cáo Lý Văn L, phải chi ̣u án phi hình sự và dân sự sơ thẩḿ

́ theo quy định của pháp luật.

Xét trong quá trình điều tra, truy tố: Điều tra viên đã thi hành các quyết định tố tụng, thu thập vật chứng, khám nghiệm hiện trường cũng như lấy lời khai của bị cáo và những người tham gia tố tụng khác liên quan trong vụ án là đảm bảo đúng theo trình tự quy định của pháp luật. Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, Kiểm sát viên đã thực hiện việc kiểm sát hoạt động tố tụng đúng theo quy định của pháp luật nên bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1, Điều 173; điểm h, i, s khoản 1, Điều 51 Bộ luật hình sự.

1. Tuyên bố: Bị cáo Lý Văn L phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

Xử phạt: Bị cáo Lý Văn L 09 (chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

2. Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 48 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

* Về vật chứng của vụ án: Chấp nhận cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện Cư Kuin đã có Quyết định xử lý vật chứng, trao trả cho ông Lý Văn C là chủ sở hữu hợp pháp 01 điện thoại di động hiệu SAMSUNG GALAXY A20S, màu xanh, số IMEI 1: 358244108146798, số IMEI 2: 358245108146795 (có biên bản giao trả lưu trong hồ sơ vụ án), vì vậy không đặt ra để giải quyết.

* Về bồi thường thiệt hại: Buộc bị cáo Lý Văn L, bồi thường cho ông Y BÊ số tiền 2.000.000 đồng (Hai triệu đồng).

Kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357; khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015.

Truy thu, sung công quỹ Nhà nước số tiền 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng) của bị cáo Lý Văn L do bán tài sản trộm cắp mà có.

2. Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Căn cứ Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Bị cáo Lý Văn L phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa, được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.

Trong trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo qui định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, Điều 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ