vanban.org

Bản án 40/2021/HS.ST — Hình sự

TAND TP. Hội An, tỉnh Quảng Nam Tuyên án 29/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Các bị cáo Dương Tấn Th, Dương Phú V, Nguyễn Duy V và Nguyễn Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017). Xử phạt: Bị cáo Dương Tấn Th 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Dương Tấn Thiện và đồng phạm - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Các bị cáo Dương Tấn Th, Dương Phú V, Nguyễn Duy V và Nguyễn Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ HỘI AN
TỈNH QUẢNG NAM

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2021/HS.ST
Ngày 29-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỘI AN, TỈNH QUẢNG NAM

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Như Biên.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Lê Tấn Hoành.

2. Ông Văn Thi Hoàng.

- Thư ký phiên tòa: Bà Trương Thị Thu Thủy, Thư ký Toà án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Quyền, Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Hội An, tỉnh Quảng Nam, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 40/2021/TLST-HS ngày 30/8/2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2021/QĐXXST-HS ngày 07/9/2021, Thông báo thay đổi thời gian mở phiên tòa số 02/TB-TA ngày 16/9/2021, đối với các bị cáo:

1. Dương Tấn Th, sinh ngày 21/01/1999, tại: thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn T, xã ĐP, thị xã ĐB, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Dương Tấn B (sinh năm 1976) và bà Đỗ Thị X (sinh năm 1971); bị cáo có vợ là Phan Thị Diệu H (sinh năm 2002) và 01 con sinh năm 2018; tiền án, tiền sự: không; nhân thân: ngày 14/12/2015, bị Công an thị xã Điện Bàn ra quyết định xử phạt vi phạm hình chính với số tiền 375.000 đồng về hành vi “Gây rối trật tự công cộng”. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” trong một vụ án khác, có mặt tại phiên tòa.

2. Dương Phú V, sinh ngày 05/8/2000, tại: thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn T, xã ĐP, thị xã ĐB, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con bà Dương Thị K (sinh năm 1962); bị cáo chưa có vợ con; tiền sự: không; tiền án: ngày 04/01/2018, bị Tòa án nhân dân thị xã Điện Bàn xử phạt 03 năm tù về tội “Cướp tài sản”. Ngày 01/9/2019, chấp hành xong án phạt tù quay về địa phương sinh sống; nhân thân: ngày 18/11/2016, bị Công an thị xã Điện Bàn ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính với số tiền 750.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Tạm giam” trong một vụ án khác, có mặt tại phiên tòa.

3. Nguyễn Duy V, sinh ngày 21/8/2001, tại: thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn T, xã ĐP, thị xã ĐB, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lao động phổ thông; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con bà Nguyễn Thị Kim T (sinh năm 1983); bị cáo chưa có vợ con; tiền án: không; tiền sự: ngày 31/8/2020, bị Công an thị xã Điện Bàn ra quyết định xử phạt vi phạm hình chính với số tiền 2.000.000 đồng về hành vi “Tàng trữ trong người các loại dao nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác”. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

4. Nguyễn Văn T, sinh ngày 01/3/1996, tại: thị xã Điện Bàn, tỉnh Quảng Nam; nơi cư trú: thôn T, xã ĐP, thị xã ĐB, tỉnh Quảng Nam; nghề nghiệp: Lái xe; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn T (sinh năm 1963) và bà Lê Thị Th (sinh năm 1965); bị cáo chưa có vợ con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn “Cấm đi khỏi nơi cư trú”, có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại:

1. Ông Nguyễn Đức Kh, sinh năm 1981; trú tại: Tổ A, khối AB, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt

2. Ông Trần Phú Q, sinh năm 1984; trú tại: Tổ B, khối TS, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt

3. Bà Tạ Diệp Thượng U, sinh năm 1980; trú tại: Tổ C, khối TC, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt

4. Ông Phan Quang Th, sinh năm 1953; trú tại: Số C, đường Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

1. Ông Hồ Đắc Đ, sinh năm 1986; trú tại: Thôn T, xã ĐT, thị xã ĐB, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt

2. Ông Nguyễn T, sinh năm 1990; trú tại: Thôn T, xã ĐT, thị xã ĐB, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt

3. Công ty TNHH Một Thành Viên M Hội An.

Địa chỉ: D, đường N, xã C, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt

Đại diện theo pháp luật: Ông Nguyễn Ngọc N. Chức vụ: Giám đốc.

Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Kim Thế V, sinh năm 1983; trú tại: Số V, đường Đ, phường T, thành phố H, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Tối ngày 10/3/2021, sau khi nhậu ở quán bà N tại khu vực bờ kè phường VĐ, thị xã ĐB, Dương Tấn Th, Dương Phú V, Nguyễn Duy V và Nguyễn Văn T rủ nhau xuống thành phố H chơi. Lúc này, Th, Phú V và Duy V cùng lên xe ô tô taxi ML, BKS: 92E-000.79 do T điều khiển (xe này của Công ty TNHH một thành viên M - Hội An giao cho Nguyễn Văn T sử dụng). Trên đường đi Dương Tấn Th quan sát thấy nhà dân bên đường có trồng cây mai để trước nhà, nên nảy sinh ý định nhổ trộm mai. Khi đến khu vực gần trường chuyên Lê Thánh Tông thuộc phường T, thành phố H, lúc này khoảng 23 giờ cùng ngày, Th nói Nguyễn Văn T dừng xe lại. Khi xe dừng lại, Th nói với Dương Phú V: “Nhổ trộm mấy cây mai để bán kiếm tiền đi đám cưới”, nghe vậy Dương Phú V đồng ý. Tại đây, Th và Phú V xuống xe đến trước cổng nhà ông Trần Phú Q nhổ 03 cây mai ra khỏi chậu rồi khiêng đến xe nói T mở cốp xe để bỏ vào, còn Duy V ngồi trên xe nhìn thấy việc nhổ trộm mai của bạn mình nhưng không nói gì. Sau đó Th, Phú V lên xe, T điều khiển xe ô tô chạy được khoảng 500 mét thì Th nói T dừng xe lại. Khi xe dừng lại Th xuống xe đến trước nhà ông Nguyễn Đức Kh nhổ 02 cây mai đang trồng trong chậu rồi nói T mở cốp xe bỏ vào. Sau đó Th nói T điều khiển xe chạy về chợ cá TH, Hội An để về xã ĐP, ĐB. Khi xe chạy đến đoạn đường giữa cánh đồng thuộc thôn 1, xã ĐP thì phía sau cốp xe bị rung lắc, sợ bị hư cốp xe và hư mai, nên Th bảo T dừng xe lại để Th bỏ bớt 01 cây mai xuống bên lề đường, rồi lên xe bảo T chạy về nghĩa trang liệt sỹ xã ĐP. Khi đến nghĩa trang liệt sỹ xã ĐP thì Th và Phú V xuống khiêng 04 cây mai vào bên trong nghĩa trang cất giấu, còn Duy V và T ở ngoài dọn dẹp đất cát trong cốp xe. Sau đó Th đi ra nói với Phú V, Duy V và T: “Cây ít quá, quay xuống chỗ cũ nhổ mấy cây nữa”, nghe vậy tất cả đồng ý lên xe. T tiếp tục điều khiển xe chạy xuống lại thành phố H. Khi đến đường ĐBP, phường T, Th thấy phía trước nhà dân có trồng mai nên bảo T dừng xe lại. Tại đây, Th và Phú V xuống xe đến trước nhà bà Tạ Diệp Thượng U tại tổ C, khối TC, phường T, thành phố H nhổ 01 cây mai cảnh và 01 cây lộc vừng rồi bảo T mở cốp xe bỏ vào. Sau đó Th đi đến phía trước xe bảo Duy V: “Mi xuống nhổ giúp cây, cây hơi to”, nghe vậy Duy V xuống xe cùng Th và Phú V đến trước nhà ông Phan Quang Th tại Số C, đường Đ, phường T, thành phố H nhổ 02 cây mai đang trồng trong chậu khiêng bỏ vào cốp xe. Sau đó Th bảo T điều khiển xe chạy về ngã ba L - cống Ô để về xã ĐP, ĐB. Khi đến nghĩa trang liệt sỹ xã ĐP thì Phú V nói chở mai về nhà mình cất giấu cho an toàn, nghe vậy Th, T và Duy V đồng ý. Khi đến nhà Phú V thì Th, Phú V và Duy V khiêng 03 cây mai và 01 cây lộc vừng vào nhà Phú V cất giấu. Sau đó Th bảo T chở mọi người xuống lại chỗ cánh đồng thôn 1, xã ĐP lấy 01 cây mai mà trước đó bỏ tại đây, rồi quay xe chạy về nghĩa trang liệt sỹ xã ĐP lấy 04 cây mai để trước đó bỏ vào cốp xe chạy về nhà Phú V cất giấu. Sau khi cất giấu mai xong Th nói với Phú V, Duy V và T đi chơi tiếp, nghe vậy tất cả đồng ý, T điều khiển xe chạy ra phường VĐ, thị xã ĐB, sau đó quay xuống thành phố H. Đến khoảng 02 giờ ngày 11/3/2021, thì tất cả quay về lại xã ĐP, thị xã ĐB. Tại đây, Th nói với T: “Khi nào bán được mai thì trả tiền taxi”, rồi tất cả giải tán về nhà ngủ. Đến khoảng 17 giờ ngày 11/3/2021, Dương Tấn Th gặp Hồ Đắc Đ, Th nói nhà có mai cảnh muốn bán, Đ có mua không. Nghe vậy Đ nói có gì sáng mai xuống xem. Sáng ngày 12/3/2021, Đ gặp Nguyễn T nói có người quen bán mai cảnh hỏi T có mua không. Nghe vậy T đồng ý mua. Sau đó Đ và T chạy xe xuống xã ĐP để gặp Th hỏi mua mai. Tại đây, Th dẫn Đ vào nhà Dương Phú V để Đ chọn mua 01 cây mai với giá 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng), rồi Đ điện thoại cho T nói chọn 01 cây mai với giá 1.700.000đ (Một triệu bảy trăm nghìn đồng), nói T vào chở mai, nghe vậy T vào đưa tiền cho Đ rồi chở mai về. Đ đưa cho Phú V 1.500.000đ (Một triệu năm trăm nghìn đồng) rồi cùng với Phú V và Th ở lại nhà Phú V sử dụng trái phép chất ma túy đến 11 giờ cùng ngày thì bị Công an xã ĐP và Đội CSĐT tội phạm về Kinh tế - Ma túy Công an thị xã Điện Bàn phát hiện nên mời về trụ sở làm việc.

Quá trình điều tra, Dương Tấn Th, Dương Phú V, Nguyễn Duy V và Nguyễn Văn T đã khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp 08 (tám) cây mai và 01 (một) cây lộc vừng của người dân tại khu vực phường T, thành phố H vào đêm ngày 10/3/2021 rạng sáng ngày 11/3/2021.

Theo Kết luận định giá tài sản của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Hội An kết luận: 01 cây mai hồng diệp thân cao 190cm, tán rộng 60cm, đường kính gốc 07cm có giá 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng); 01 cây mai xuân thân cao 210cm, tán rộng 120cm, đường kính gốc 09cm có giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng); 01 cây mai hồng diệp thân cao 170cm, tán rộng 70cm, đường kính gốc 06cm có giá 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng); 01 cây mai xuân thân cao 140cm, tán rộng 60cm, đường kính gốc 04cm có giá 700.000 đồng (Bảy trăm ngàn đồng); 01 cây mai xuân thân cao 90cm, tán rộng 70cm, đường kính gốc 05cm có giá 1.000.000 đồng (Một triệu đồng); 01 cây lộc vừng thân cao 160cm, tán rộng 60cm, đường kính gốc 06cm có giá 100.000 đồng (Một trăm ngàn đồng); 01 cây mai xuân thân cao 80cm, tán rộng 50cm, đường kính gốc 03cm có giá 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng); 01 cây mai xuân thân cao 80cm, tán rộng 40cm, đường kính gốc 04cm có giá 300.000 đồng (Ba trăm ngàn đồng); 01 cây mai xuân thân cao 60cm, tán rộng 30cm, đường kính gốc 03cm có giá 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

Cáo trạng số: 40/CT-VKSHA-HS ngày 27 tháng 8 năm 2021, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An đã truy tố các bị cáo Dương Tấn Th, Dương Phú V, Nguyễn Văn T và Nguyễn Duy V về tội “Trộm cắp tài sản" theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với các bị cáo theo như Cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Dương Tấn Th từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù; áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Dương Phú V từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi bốn) tháng tù; áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; Điều 54 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Duy V từ 09 (Chín) đến 12 (Mười hai) tháng tù; áp dụng điểm a khoản 2 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017), xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T từ 09 (Chín) đến 12 (Mười hai) tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 18 (Mười tám) đến 24 (Hai mươi bốn) tháng.

Và đề nghị xử lý vật chứng như cáo trạng đã nêu.

Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bồi thường gì thêm; giữa người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Hồ Đắc Đ với Nguyễn T tự thỏa thuận với nhau về số tiền mua mai. Vì vậy không xem xét.

Các bị cáo Dương Tấn Th, Dương Phú V, Nguyễn Văn T và Nguyễn Duy V thống nhất với nội dung cáo trạng, thừa nhận hành vi phạm tội mà mình đã gây ra, rất ăn năn hối lỗi; đồng thời mong Hội đồng xét xử xem xét, giảm nhẹ hình phạt cho các bị cáo.

Bị hại Phan Quang Th có mặt tại phiên tòa đề nghị Hội đồng xét xử xử lý các bị cáo theo quy định pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hội An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An và Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đều đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Trong quá trình điều tra và truy tố, các bị cáo, bị hại và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hay khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về nội dung: Lời khai của các bị cáo Dương Tấn Th, Dương Phú V, Nguyễn Văn T và Nguyễn Duy V tại phiên tòa phù hợp với chứng cứ, lời khai của các bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của bị hại, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở để xác định:

Tối ngày 10/3/2021 đến rạng sáng ngày 11/3/2021, tại địa bàn phường T, thành phố H, các bị cáo Dương Tấn Th, Dương Phú V, Nguyễn Văn T và Nguyễn Duy V đã cùng nhau bàn bạc, thống nhất ý chí thực hiện loạt hành vi trộm cắp cây cảnh của nhiều người dân, cụ thể là 08 cây mai và 01 cây lộc vừng của ông Nguyễn Đức Kh, ông Trần Phú Q, ông Phan Quang Th và bà Tạ Diệp Thượng U. Theo Kết luận định giá tài sản số 24/KL-ĐGTS, số 25/KL-ĐGTS, số 26/KL-ĐGTS và số 27/KL-ĐGTS ngày 20/4/2021 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Hội An, tổng giá trị các cây mai và cây lộc vừng các bị cáo trộm cắp là 4.700.000 đồng (Bốn triệu, bảy trăm nghìn đồng).

Như vậy, hành vi của các bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội "Trộm cắp tài sản" theo quy định tại Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Bị cáo Dương Tấn Th là người cầm đầu, khởi xướng việc trộm cắp tài sản. Các bị cáo còn lại tiếp nhận ý chí của Th, cùng thực hiện hành vi trộm cắp tài sản và chở đi cất giấu, giữa các bị cáo có sự cấu kết chặt chẽ với nhau trong việc thực hiện tội phạm. Do đó, hành vi phạm tội của các bị cáo thuộc trường hợp định khung tăng nặng “Phạm tội có tổ chức”. Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hội An truy tố các bị cáo tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 (đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017) là có căn cứ, đúng pháp luật.

Xét tính chất, mức độ nguy hiểm của hành vi phạm tội của các bị cáo thì thấy:

Tất cả các bị cáo đều có đủ khả năng nhận thức được việc trộm cắp tài sản của người khác là hành vi vi phạm pháp luật. Bị cáo Dương Phú V còn có tiền án về tội “Cướp tài sản” nên càng hiểu rõ việc tiếp tục vi phạm pháp luật sẽ bị trừng trị nghiêm khắc. Tuy nhiên do lòng tham nên các bị cáo vẫn bất chấp mà thực hiện hành vi bị pháp luật nghiêm cấm. Hành vi của các bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác. Bị cáo Dương Tấn Th là người cầm đầu, khởi xướng việc trộm cắp tài sản, cũng là người thực hành tích cực nhất nên phải chịu trách nhiệm cao nhất trong vụ án. Bị cáo Dương Phú V cũng là người thực hành rất tích cực khi cùng với bị cáo Th nhiều lần thực hiện hành vi trộm cắp cây mai của nhiều bị hại, đồng thời chịu trách nhiệm bán cây cảnh lấy tiền nên mức độ nghiệm trọng chỉ sau bị cáo Th. Bị cáo Nguyễn Duy V một lần cùng với Th, Phú V thực hiện việc trộm mai của bị hại Phan Quang Th nên mức độ nghiệm trọng ít hơn. Bị cáo Nguyễn Văn T không trực tiếp thực hiện việc trộm cây cảnh nhưng là người điều khiển phương tiện chở các bị cáo đi trộm cắp và cất giấu tài sản trộm cắp nên phải chịu trách nhiệm tương ứng với hành vi và mức độ phạm tội của mình.

Xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của các bị cáo thì thấy:

Các bị cáo Dương Tấn Th, Nguyễn Văn T và Nguyễn Duy V không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo Dương Phú V có 01 tiền án về tội “Cướp tài sản” nên thuộc trường hợp “Tái phạm” theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, cả 04 bị cáo đều có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; các bị cáo phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn. Do đó, 04 bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Riêng bị cáo Nguyễn Văn T có thời gian tham gia nghĩa vụ quân sự, có ông bà nội tham gia cách mạng được Nhà nước khen tặng nhiều danh hiệu cao quý nên được áp dụng khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để giảm nhẹ một phần hình phạt.

Bị cáo Dương Phú V có 01 tiền án về tội “Cướp tài sản”; bị cáo Nguyễn Duy V có 01 tiền sự về hành vi “Tàng trữ trong người các loại dao nhằm mục đích cố ý gây thương tích cho người khác”; bị cáo Dương Tấn Th có nhân thân xấu. Do đó, cần phải áp dụng hình phạt tù, cách ly các bị cáo khỏi xã hội một thời gian mới đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Bị cáo Nguyễn Văn T lần đầu phạm tội, vai trò của bị cáo trong vụ án không lớn, bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và có nhân thân tốt, có nơi cư trú rõ ràng nên không cần thiết phải bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù mà cho bị cáo hưởng án treo cũng đủ tính răn đe, giáo dục bị cáo trở thành người công dân có ích cho xã hội, đảm bảo điều kiện quy định tại Điều 2 và không trái với quy định tại Điều 3 Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15 tháng 5 năm 2018 của Hội đồng Thẩm phán – Tòa án nhân dân tối cao.

Công ty TNHH Một Thành Viên M Hội An không biết bị cáo Nguyễn Văn T sử dụng xe ô tô BKS: 92E-000.79 là tài sản của Công ty làm phương tiện trộm cắp tài sản nên không xem xét trách nhiệm của Công ty TNHH Một Thành Viên M Hội An.

Ông Hồ Đắc Đ và ông Nguyễn T mua 01 cây mai do Dương Phú V bán, tuy nhiên Đ và T không biết cây mai này là tài sản do trộm cắp mà có, nên không xem xét trách nhiệm hình sự của Hồ Đắc Đ và Nguyễn T.

Về trách nhiệm dân sự:

Các bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Ông Hồ Đắc Đ và ông Nguyễn T không yêu cầu bị cáo Dương Phú V trả lại số tiền mua cây mai là 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) nên Hội đồng xét xử không xem xét

Giữa Hồ Đắc Đ và ông Nguyễn T tự thỏa thuận với nhau về 1.700.000 đồng (Một triệu bảy trăm ngàn đồng) tiền mua cây mai và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử cũng không xem xét.

Về xử lý vật chứng: Trong quá trình điều tra, các bị cáo đã giao nộp:

+ 01 cây mai hồng diệp thân cao 190cm, tán rộng 60cm, đường kính gốc 09cm và 01 cây mai xuân thân cao 210cm, tán rộng 120cm, đường kính gốc 09cm của ông Phan Quang Th.

+ 01 cây mai hồng diệp thân cao 170cm, tán rộng 70cm, đường kính gốc 06cm và 01 cây mai xuân thân cao 140cm, tán rộng 60cm, đường kính gốc 04cm của ông Nguyễn Đức Kh.

+ 01 cây mai xuân thân cao 80cm, tán rộng 50cm, đường kính gốc 03cm; 01 cây mai xuân thân cao 80cm, tán rộng 40cm, đường kính gốc 04cm; 01 cây mai xuân thân cao 60cm, tán rộng 30cm, đường kính gốc 03cm của ông Trần Phú Q.

+ 01 cây mai xuân thân cao 90cm, tán rộng 70cm, đường kính gốc 05cm và 01 cây lộc vừng thân cao 160cm, tán rộng 60cm, đường kính gốc 06cm của bà Tạ Diệp Thương U.

+ 01 xe ô tô BKS: 92E-000.79 của Trả lại Công ty taxi M - Hội An.

Qua quá trình điều tra, xác định đây là tài sản hợp pháp của các bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hội an đã ra Quyết định xử lý vật chứng, trao trả các tài sản nêu trên cho chủ sở hữu hợp pháp nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Số tiền bị cáo Dương Phú V bán cây mai 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) là tiền bất hợp pháp nên cần truy thu sung công quỹ nhà nước khi án có hiệu lực pháp luật. Bị cáo Dương Phú V đã giao nộp cho Cơ quan điều tra 1.000.000 đồng (Một triệu đồng), hiện nay đang tạm giữ tại tài khoản tạm giữ Công an thành phố Hội An tại Kho bạc Nhà nước thành phố Hội An (tài khoản số: 3949.0.9043934.00000 ngày 03/8/2021). Bị cáo Dương Phú V còn phải nộp số tiền còn lại là 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng).

Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Dương Tấn Th, Dương Phú V, Nguyễn Duy V và Nguyễn Văn T phạm tội "Trộm cắp tài sản".

Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Dương Tấn Th 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Dương Phú V 02 (Hai) năm 06 (Sáu) tháng tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 173; các điểm h, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Duy V 02 (Hai) năm tù.

Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt thi hành án.

Áp dụng: Điểm a khoản 2 Điều 173; các điểm h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 54; Điều 65 Bộ luật Hình sự năm 2015 (Đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Văn T 01 (Một) năm tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 02 (Hai) năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/9/2021)

Giao bị cáo Nguyễn Văn T cho Ủy ban nhân dân xã ĐP, thị xã ĐB, tỉnh Quảng Nam giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án Hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật này.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015: Truy thu bị cáo Dương Phú V số tiền 1.500.000 đồng (Một triệu năm trăm ngàn đồng) sung công quỹ Nhà nước, bị cáo đã nộp 1.000.000 đồng vào tài khoản số 3949.0.9043934.00000 ngày 03/8/2021 của Công an thành phố Hội An, số tiền còn lại 500.000 đồng (Năm trăm ngàn đồng) tiếp tục truy thu sung công quỹ Nhà nước.

Về án phí: Các bị cáo Dương Tấn Th, Dương Phú V, Nguyễn Duy V và Nguyễn Văn T mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 29/9/2021) các bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án để Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử theo trình tự phúc thẩm. Đối với bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hạn thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ