- Tranh chấp gì? án hình sự — "Bản án - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? [1] Tuyên bố: Bị cáo Trần Tuấn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁNNHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG THÀNH PHỐ CẦN THƠ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2021/HS-ST Ngày: 09.4.2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN CÁI RĂNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Hồng Vang
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Thanh Tùng
Bà Trần Ngọc Sáng
- Thư ký phiên tòa: Bà Nhâm Thị Thanh Trang – Thư ký Tòa án
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Nhủ Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 4 năm 2021 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 10/2021/TLST-HS ngày 09 tháng 01 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 25/2021/QĐXXST-HS ngày 24 tháng 02 năm 2021 và Quyết định hoãn phiên tòa số : 10/2021/HSST-QĐ, ngày 22.3.2021 đối với bị cáo :
- TRẦN TUẤN Đ , sinh năm 1987, tại C ; giới tính: Nam; Nơi cư trú: Số XX, tổ XX, khu vực XX, phường H , quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ: nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: x/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phan Tiến S , sinh năm 19xx (sống) và bà Trần Thị T , sinh năm 19xx (sống); Bị cáo chưa có vợ, con.
Tiền án:
+Ngày 09.01.2019 bị Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ xử phạt 01 năm tù về tội trộm cắp tài sản theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự bản án số: xx/2019/HS-ST, ngày xx.xx.2019.
+Ngày 29.3.2019 bị Tòa án nhân dân quận Bình Thủy, thành phố Cần Thơ xử phạt 09 tháng tù theo điểm a khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Tổng hợp hình phạt bản án số xx/2019/HS-ST, ngày xx.01.2019 của Tòa án nhân dân quận Ninh Kiều, thành phố Cần Thơ là 01 năm. Bị cáo phải chấp hành 21 tháng tù. Bị cáo chấp hành xong án phạt tù ngày 10.4.2020.
Tiền sự: Không.
Bị cáo bị tạm giữ ngày 15.12.2020. Hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
Bị cáo có mặt tại tòa.
*Bị hại:
- Phạm Đăng K , sinh năm 19xx (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
Địa chỉ: xx, đường số xx, KDC công ty xx, khu vực xx, phường H , quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Phạm Hoàng M , sinh năm 19xx (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
Địa chỉ: Số xx, đường số xx, KDC Xây dựng, khu vực xx, phường x, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Âu Bích V, sinh năm 19xx (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
Địa chỉ: Số xx, Chung cư Mậu Thân, khu vực xx, phường A, quận N, thành phố Cần Thơ.
*Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
-
Huỳnh Thị B , sinh năm 19xx (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
Địa chỉ: ấp Rạch Bx, xã T , huyện Cần Đ , tỉnh L
Chỗ ở: Cơ sở phế liệu Thanh Dung, đường Nam Sông H , khu vực , phường H , quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
- Dương Thị S , sinh năm 1960 (có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt)
Địa chỉ: Tổ xx, khu vực xx, phường H , quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 13.9.2020 Trần Tuấn Đ đi bộ từ nhà đến khu dân cứ Công ty 8 thuộc phường H , quận Cái Răng tìm tài sản lấy trộm, khi đi đến nhà anh Phạm Đăng K tại số xx khu vực , phường H , quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ phát hiện 01 khung lưới sắt để phía trước nhà không người trông co nên Đ lén lút lấy trộm rồi ang đến cơ sở thu mua phế liệu T tại địa chỉ đường Nam Sông H , khu vực , phường H , thành phố Cần Thơ bán cho bà Huỳnh Thị B với số tiền 115.000 đồng. Sau đó Đ tiếp tục đi đến nhà anh Phạm Hoàng Minh tại số xx, khu dân cư xây dựng khu vực , phường H , quận Cái Răng lấy trộm 01 khung sắt (dùng để phơi quần áo) trên đường mang đi tiêu thụ thì bị lực lượng Công an phường H , quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ trên đường tuần tra phát hiện.
Tang vật thu giữ:
+ Tiền Việt Nam 115.000 đồng (Một trăm mười lăm nghìn đồng)
+ 01 khung sắt có chiều cao 1,2 x 0,8 x 1,5m, nặng 09kg
+ 01 khung sắt kích thước 1,8 x 3,2 m, nặng 23kg
Tại kết luận định giá số 100/TCKH-HĐĐG, ngày 22/10/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự quận Cái Răng kết luận:
+ 01 khung sắt kích thước (1,8 x 3,2m) đã qua sử dụng, nặng 23kg có giá trị 230.000 đồng.
+ 01 khung sắt có chiều cao 1,2m, rộng 0,8m, đã qua sử dụng, nặng 09kg có giá trị 90.000 đồng.
Quá trình điều tra Trần Tuấn Đ khai nhận còn thực hiện hành vi trộm cắp tài sản khác, cụ thể như sau: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 16/10/2020 Đ đi bộ đến tổ xx khu vực xx, phường H , quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ phát hiện bên trong hàng rào nhà chị Âu Bích V có để nhiều ghế nhựa không người trong coi, Đ leo qua hàng rào rồi lén lút đi vào bên trong lấy 14 cái ghế nhựa rồi mang đến quán cà phê cặp đường dẫn cầu Cần Thơ thuộc khu vực xx, phường H, quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ bán cho bà Dương Thị S với số tiền 300.000 đồng rồi tiêu xài cá nhân hết.
Tang vật thu giữ: 14 ghế nhựa (04 cái màu xanh, 10 cái màu đỏ)
Tại kết luận định giá số 105/TCKH-HĐĐG, ngày 27.10.2020 của Hội đồng định giá trong Tố tụng hình sự quận Cái Răng kết luận: 14 cái ghế nhựa cùng loại (04 cái màu xanh, 10 cái màu đỏ) có giá trị 700.000 đồng
Tổng giá trị tài sản định giá được là: 1.020.000 đồng.
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ đã quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Huỳnh Thị B tiền Việt Nam 115.000 đồng; trả cho Phạm Hoàng M 01 khung sắt có chiều cao 1,2m. rộng 0,8m, dài 15m, nặng 09kg; trả cho Phạm Đăng K 01 khung sắt kích thước 1,8 x 3,2m, nặng 23kg; trả cho Âu Bích V 14 ghế nhựa.
Đối với Huỳnh Thị Ba bà Dương Thị S khi mua tài sản không biết do Đạt phạm tội mà có nên không truy cứu trách nhiệm hình sự
Tại bản cáo trạng số: 22/CT-VKS ngày 28.01.2021 của Viện kiểm sát nhân dân quận Cái Răng đã truy tố bị cáo Trần Tuấn Đ về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ quan điểm truy tố bị cáo Trần Tuấn Đ về tội “Trộm cắp tài sản”. Đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51; điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự, đề nghị xử phạt bị cáo Trần Tuấn Đạt từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù giam.
Về xử lý vật chứng: Ghi nhận cơ quan điều tra đã trả lại tài sản cho Phạm Hoàng M , Phạm Đặng K , Âu Bích V , Huỳnh Thị B
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường.
Bị cáo Trần Tuấn Đ đã khai nhận hành vi phạm tội và xin được giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng: Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra, truy tố, xét xử bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo Trần Tuấn Đ thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời thừa nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, phù hợp với vật chứng cùng các tài liệu chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, qua đó đủ cơ sở xác định: Vào các ngày 13.9.2020; ngày 16.10.2020 bị cáo lén lút lấy trộm tài sản của các bị hại có tổng giá trị 1.020.000 đồng. Bị cáo có tiền án về tội “Trộm cắp tài sản” chấp hành xong hình phạt nhưng chưa được xóa án tích lại tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản có giá trị 1.020.000 đồng. Hành vi mà bị cáo đã thực hiện đã đủ yếu tố cấu thành tội Trộm cắp tài sản sản. Do đó, Viện kiểm sát quận Cái Răng đã truy tố các bị cáo về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại điềm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn cứ.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất lòng tin đối với mọi người xung quanh, làm mất trật tự trị an tại địa phương nên cần có mức án tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo để răn đe giáo dục, cải tạo bản thân bị cáo tốt hơn và phòng ngừa chung trong xã hội
Khi quyết định hình phạt, Hội đồng xét xử xem xét tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự để giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo, thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Tại phiên tòa, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về trách nhiệm dân sự: Các bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết
Về xử lý vật chứng:
Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Cái Răng, thành phố Cần Thơ đã quyết định xử lý vật chứng trả lại cho Huỳnh Thị B tiền Việt Nam 115.000 đồng; trả cho Phạm Hoàng M 01 khung sắt có chiều cao 1,2m. rộng 0,8m, dài 15m, nặng 09kg; trả cho Phạm Đăng K 01 khung sắt kích thước 1,8 x 3,2m, nặng 23kg; trả cho Âu Bích Vân 14 ghế nhựa
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự.
Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Trần Tuấn Đ phạm tội “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt: Bị cáo Trần Tuấn Đạt 01 (một) năm tù giam. Thời hạn phạt tù được tính từ ngày 15.12.2020.
Về án phí hình sự sơ thẩm: Bị cáo Trần Tuấn Đ phải nộp 200.000 đồng.
Về quyền kháng cáo: Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án đối với bị cáo và những người tham gia tố tụng có mặt tại phiên tòa; đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật để yêu cầu Tòa án cấp trên xét xử lại vụ án theo trình tự phúc thẩm./.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và Điều 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự./.
| *Nơi nhận : - TAND TP. Cần Thơ; - VKSND TP. Cần Thơ - Viện kiểm sát quận Cái Răng; - Nhà tạm giữ công an quận Cái Răng; - Bị cáo; - Những người TGTT; - Lưu hồ sơ vụ án | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ Thẩm phán – chủ tọa phiên tòa Trần Thị Hồng Vang |