vanban.org

Bản án 40/2021/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Hòa Bình, tỉnh Bạc Liêu Tuyên án 28/09/2021 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố: Bị cáo Văn Minh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Văn Minh H cho Ủy ban nhân dân xã MD, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu để giám sát, giáo dục. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Văn Minh H - "Cố ý gây thương tích" - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 134 Luật sửa đổi, bổ…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Văn Minh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN HB
TỈNH BẠC LIÊU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2021/HS-ST
Ngày 28-9-2021

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HB, TỈNH BẠC LIÊU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Đỗ Ngọc Diễm.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Liêu Tài Ngoánh

Ông Dương Văn Hậu

- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Mỹ Ghết, Thư ký Tòa án nhân dân huyện HB, tỉnh Bạc Liêu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện HB, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Ngọc Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện HB, tỉnh Bạc Liêu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 45/2021/TLST-HS ngày 07 tháng 9 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2021/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 9 năm 2021 đối với bị cáo:

Văn Minh H, sinh năm: 1965, tại: HB - Bạc Liêu. Nơi cư trú: ấp 33, xã MD, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu; nghề nghiệp: làm ruộng; Trình độ học vấn: 3/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Văn Công K (đã chết) và bà Phạm Thị S (đã chết); Vợ Nguyễn Thị H, sinh năm: 1969 ; Con: 04 người, lớn nhất sinh năm: 1985 và nhỏ nhất sinh năm 1992; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: tốt; Bị cáo tại ngoại (có mặt).

- Bị hại: Huỳnh Thị T, sinh năm: 1965; địa chỉ: ấp 33, xã MD, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 15 giờ ngày 18/11/2020, vì cho rằng bà T làm gãy hàng rào của mình nên giữa Văn Minh H và bà Huỳnh Thị T cự cãi với nhau. H nhặt một đoạn gỗ tròn, dạng cây tre, một đầu nhọn và một đầu bằng, chiều dài 70-80cm, đường kính khoảng 05cm đánh một cái từ trên xuống, thủng nón lá trúng vào vùng đầu của bà T gây thương tích. Bà T đến công an xã MD trình báo và đến bệnh viện điều trị thương tích. Ngày 22/01/2021 bà Huỳnh Thị T có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Văn Minh H.

Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 35/TgT ngày 27/01/2021 của Trung tâm pháp y tỉnh Bạc Liêu kết luận thương tích của bà Huỳnh Thị T là: 01 sẹo ở vùng đỉnh đầu trái, tỷ lệ 01% (một). Cơ chế hình thành vết thương là do vật tầy tác động từ trên xuống dưới. Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên hiện tại là 01%.

Bản cáo trạng số 44/CT-VKSHB ngày 06/9/2021 của Viện kiểm sát nhân dân huyện HB, tỉnh Bạc Liêu đã truy tố bị cáo Văn Minh H về tội “Cố ý gây thương tích” theo điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận: giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử: tuyên bố bị cáo Văn Minh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”; áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b,i, s khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 54 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 04 (bốn) tháng đến 06 (Sáu) tháng tù; Đề nghị tịch thu tiêu hủy vật chứng thu giữ.

Bị cáo thừa nhận đã dùng đoạn cây tre gây thương tích cho bà Huỳnh Thị T và không có ý kiến tranh luận.

Tại phiên tòa, bị hại đồng ý nhận số tiền bồi thường thiệt hại 10.000.000 đồng từ bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét mức hình phạt vừa phải đối với bị cáo.

Lời nói sau cùng: Bị cáo xin nhận lỗi với bị hại, bị cáo cảm thấy hối hận về hành vi gây thương tích cho bị hại và xin Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo, bị hại không có ý kiến và khiếu nại, do đó các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Lời khai nhận của Văn Minh H phù hợp với lời khai của bị hại, lời khai người làm chứng, vật chứng thu giữ và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, đủ cơ sở kết luận: bị cáo Văn Minh H dùng đoạn cây gỗ (loại gỗ tre) là hung khí nguy hiểm đánh trúng vùng đầu của bà Huỳnh Thị T gây thương tích tỷ lệ 01%. Bà Huỳnh Thị T có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với bị cáo Văn Minh H.

Hành vi của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến sức khỏe của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự xã hội tại địa phương, đã phạm vào tội “Cố ý gây thương tích” được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 134 Bộ luật Hình sự, tính chất nguy hiểm mà điều khoản quy định khung hình phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Bị cáo Văn Minh H không có tiền án, tiền sự, nhân thân tốt. Xét về tình tiết giảm nhẹ, trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa, bị cáo H thành khẩn khai nhận hành vi đã thực hiện, phạm tội lần đầu, thuộc trường hợp ít nghiêm trọng. Bị cáo tỏ thái độ ăn năn hối cải và chủ động bồi thường thiệt hại cho bị hại. Do đó, bị cáo được áp dụng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm b, i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Căn cứ vào các tình tiết trên xét thấy đề nghị của Kiểm sát viên về việc áp dụng các tình tiết giảm nhẹ, về tính chất mức độ của hành vi phạm tội của bị cáo là phù hợp. Tuy nhiên, tuổi bị cáo tương đối cao, sự am hiểu pháp luật còn hạn chế, hành vi phạm tội xảy ra xuất phát từ sự nóng giận nhất thời và thương tích gây ra cho bị hại tương đối nhỏ và có thiện chí khắc phục hậu quả do mình gây ra. Vì vậy, Hội đồng xét xử xét thấy, không cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội, áp dụng mức hình phạt có điều kiện cũng đủ để răn đe đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.

Về vật chứng: Cơ quan điều tra thu giữ 01 đoạn gỗ, dạng gỗ tre, dài 63,1cm, chu vi đầu lớn nhất 7,1cm, chu vi đầu còn lại 05cm và 01 đoạn gỗ tre dài 83cm, chu vi nơi to nhất là 05cm là vật chứng liên quan đến hành vi phạm tội nên tịch thu tiêu hủy. Đối với 01 nón lá hình chóp nhọn, dây đeo nón bằng vải, mặt trong nón có 06 vành tre, chu vi vành tre lớn nhất của nón là 1,26m, trên nón có 01 vết rách 01cm x 1,4cm cách đỉnh chóp nhọn của nón là 07cm không có giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Bị cáo và bị hại đã thỏa thuận xong số tiền bồi thường thiệt hại, bị hại đã nhận xong và không yêu cầu xem xét giải quyết.

Về án phí hình sự: Bị cáo Văn Minh H phải chịu án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Tuyên bố: Bị cáo Văn Minh H phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 134; các điểm b, i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo Văn Minh H 06 (sáu) tháng tù nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 12 (mười hai) tháng kể từ ngày tuyên án.

Trong thời gian thử thách, giao bị cáo Văn Minh H cho Ủy ban nhân dân xã MD, huyện HB, tỉnh Bạc Liêu để giám sát, giáo dục. Trường hợp thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

2. Về vật chứng: áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự, điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự tịch thu tiêu hủy: 01 đoạn gỗ, dạng gỗ tre, dài 63,1cm, chu vi đầu lớn nhất 7,1cm, chu vi đầu còn lại, đoạn gỗ tre đã qua sử dụng và 01 khúc gỗ tròn, dạng cây tre, có chiều dài 83cm, chu vi nơi to nhất là 05cm; 01 cái nón lá hình chóp nhọn, dây đeo nón bằng vải để giữ trên cổ, mặt trong nón có 06 vành tre, chu vi vành tre lớn nhất của nón là 1,26m, trên nón có 01 vết rách 01cm x 1,4cm cách đỉnh chóp nhọn của nón là 07cm.

(Vật chứng đang lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện HB theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 08/9/2021)

4. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án: buộc bị cáo Văn Minh H nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, bị hại có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ