- Tranh chấp gì? án hình sự — "Vũ Trọng B phạm tội “Trộm cắp tài sản”. - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Trọng B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG TỈNH HẢI DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2021/HS-ST Ngày: 23 - 7 - 2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÌNH GIANG - TỈNH HẢI DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Duy Hải.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Đăng Đông và ông Vũ Đình Mạnh.
- Thư ký phiên tòa: Ông Vũ Cao Nguyên – Thư ký viên Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang tham gia phiên tòa: Bà Dương Thị Duyên – Kiểm sát viên.
Ngày 23 tháng 7 năm 2021, tại trụ sở, Tòa án nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 27/2021/TLST-HS ngày 22 tháng 6 năm 2021 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 31/2021/QĐXXST-HS ngày 09 tháng 7 năm 2021 đối với bị cáo:
VŨ TRỌNG B - Sinh năm 1982.
Nơi sinh: xã ĐT, huyện TM, tỉnh Hải Dương;
Nơi cư trú: Khu dân cư số 1, xã ĐT, huyện TM, tỉnh Hải Dương.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không;
Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: Lớp 12/12;
Con ông Vũ Ngọc D, sinh năm 1954 (ông D là bệnh binh hạng 2 tỷ lệ mất sức lao động là 61%) và bà: Phạm Thị T, sinh năm 1960.
Gia đình có 03 anh em, bị cáo là con thứ nhất .
Có vợ là Vũ Thị H, sinh năm 1982 (đã ly hôn). Bị cáo có 01 con sinh năm 2010.
Tiền án: Bản án số 33/2019/HS-ST ngày 29/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bình Giang xử phạt bị cáo B 15 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 28/4/2020 bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án.
Tiền sự: Không.
Nhân thân: Bản án số 12/2015/HS-ST ngày 08/4/2015 của Tòa án nhân dân huyện TM xử phạt 13 tháng tù về tội Trộm cắp tài sản. Ngày 30/01/2016, B chấp hành xong toàn bộ bản án.
+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 22 ngày 20/7/2003 của Công an huyện TM xử phạt tiền về hành vi Lạm dụng tình dục. Ngày 20/8/2003 B đã nộp phạt;
+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 118 ngày 19/8/2011 của Công an huyện Gia Lộc xử phạt tiền về hành vi Trộm cắp tài sản. Ngày 30/8/2011, B đã nộp phạt;
+ Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 71, 72 ngày 27/11/2014 của Công an huyện TM xử phạt tiền về hành vi Trộm cắp tài sản.
Tạm giữ: Không.
Tạm giam: Từ ngày 13/4/2021 đến nay tại Trại tạm giam - Công an tỉnh Hải Dương.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
+ Ông Phạm Văn C – Sinh năm 1967.
Địa chỉ: Khu 3, thị trấn KS, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
+ Bà Vũ Thị Thanh H – Sinh năm 1969.
Địa chỉ: Thôn VL, xã VH, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
+ Ông Phạm Xuân M – Sinh năm 1953.
Địa chỉ: Khu Th, thị trấn KS, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương.
Bị hại vắng mặt tại phiên tòa.
- Người làm chứng:
+ Ông Vũ Ngọc D – Sinh năm 1954.
Địa chỉ: Khu dân cư số 01, xã ĐT, huyện TM, tỉnh Hải Dương.
Người làm chứng vắng mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào tối ngày 12/01/2021, Vũ Trọng B điều khiển xe mô tô BKS 34F1-145.71 (mượn của bố đẻ là ông Vũ Ngọc D) đi từ nhà ở khu dân số 1, xã ĐT, huyện TM, tỉnh Hải Dương đến nhà bạn gái là chị Lê Thị Th, sinh năm 1985 ở thôn TV, phường MĐ, thị xã Mỹ Hào, tỉnh Hưng Yên chơi. Đến khoảng 23 giờ 30 phút cùng ngày, B điều khiển xe mô tô đi về nhà trên Quốc lộ 38 theo hướng từ Quán G, xã VH đi lối Cầu Sặt cũ. Khi đi qua Cầu Sặt khoảng 200m, B phát hiện nhà ông Phạm Văn C ở rìa đường Quốc lộ 38 thuộc khu 3, thị trấn KS, huyện Bình Giang trồng nhiều cây cảnh. B dựng xe, đi bộ sang đường nhìn qua hàng rào bằng sắt thấy trong sân có chậu cây mẫu đơn hoa vàng, thế trực nên nảy sinh ý định chiếm đoạt. B trèo qua hàng rào vào sân, đi đến chỗ cây mẫu đơn dùng hai tay nhổ bật gốc rồi trèo ra ngoài để lên bụng xe đi về nhà.
Ngày 13/01/2021, sau khi ngủ dậy ông C phát hiện bị mất cây hoa mẫu đơn trên. Đến ngày 09/4/2021 ông C làm đơn trình báo Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an huyện Bình Giang. Sau khi tiếp nhận đơn, ngày 12/4/2021, Cơ quan điều tra - Công an huyện Bình Giang tiến hành rà soát tại địa bàn huyện và các địa phương lân cận, kết quả xác định trên địa bàn xã ĐT, huyện TM có đối tượng Vũ Trọng B đã có tiền án về tội Trộm cắp tài sản, thường xuyên đi về ban đêm và mang theo cây cảnh, nghi là đối tượng trộm cắp cây cảnh nên Cơ quan điều tra - Công an huyện Bình Giang đã triệu tập B đến làm việc. Trước cơ quan điều tra, B đã khai nhận hành vi chiếm đoạt cây hoa mẫu đơn có đặc điểm như trên của gia đình ông C.
Tại Kết luận số 07/KL-HĐĐG ngày 12/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND huyện Bình Giang kết luận: Cây hoa mẫu đơn vàng của gia đình ông Phạm Văn C trị giá 6.000.000đ.
Quá trình điều tra, bị cáo Vũ Trọng B còn tự khai báo về 02 hành vi trộm cắp tài sản thực hiện trên địa bàn huyện Bình Giang chưa được phát hiện và đã được Cơ quan điều tra - Công an huyện Bình Giang tiến hành làm rõ, cụ thể như sau:
Vụ thứ nhất: Khoảng 00 giờ ngày 01/12/2020, lợi dụng đêm tối, Vũ Trọng B điều khiển xe mô tô BKS 34F1-145.71 đi lang thang trong huyện Bình Giang để xem nhà ai có tài sản (là cây cảnh) sơ hở thì trộm cắp. Khi đi đến thôn VL, xã VH, huyện Bình Giang, phát hiện tại khu đất lưu không của nhà chị Vũ Thị Thanh H ở thôn VL có để 01 chậu cây hoa trà màu hồng, có đặc điểm cao 01m, đường kính gốc khoảng 3cm, tán rộng 60cm. B đã đi đến dùng hai tay nhổ bật gốc rồi mang về nhà trồng.
Tại Kết luận số 10/KL-HĐĐG ngày 27/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND huyện Bình Giang kết luận: Cây hoa trả của gia đình bà Vũ Thị Thanh H trị giá 2.000.000đ.
Vụ thứ hai: Cũng với thủ đoạn tương tự như trên, khoảng 00 giờ ngày 12/3/2021, Vũ Trọng B đi lang thang tại khu Th, thị trấn KS, phát hiện trước cửa nhà ông Phạm Xuân M ở khu Th có trồng 01 chậu cây hoa mẫu đơn đỏ, có đặc điểm: cao 02m, đường kính gốc 02cm, tán rộng 60cm. B đi đến dùng tay nhổ bật gốc rồi đem về nhà trồng.
Tại Kết luận số 08/KL-HĐĐG ngày 27/4/2021 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - UBND huyện Bình Giang kết luận: Cây mẫu đơn hoa đỏ trị giá 2.000.000đ.
Vật chứng của vụ án: Ngày 12/4/2021, Vũ Trọng B tự nguyện giao nộp cho Cơ quan điều tra - Công an huyện Bình Giang xe mô tô 34F1-145.71; cây mẫu đơn hoa vàng của ông Phạm Văn C, cây hoa trà của gia đình bà Vũ Thị Thanh H và cây mẫu đơn hoa đỏ của gia đình ông Phạm Xuân M. Ngày 15/4/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra trả lại ông Phạm Văn C cây mẫu đơn hoa vàng và ngày 20/5/2021 trả lại ông Phạm Xuân M cây mẫu đơn hoa đỏ và trả bà Vũ Thị Thanh H cây hoa trà; Đối với xe mô tô BKS 34F1-145.71, quá trình điều tra xác định ông Vũ Ngọc D là chủ sở hữu hợp pháp, ông D không biết B sử dụng chiếc xe để đi trộm cắp tài sản nên ngày 18/5/2021, Cơ quan cảnh sát điều tra – Công an huyện Bình Giang đã trả lại chiếc xe cho ông D.
Về trách nhiệm dân sự: Sau khi nhận lại tài sản là cây cảnh, ông C, ông M và bà H đều không yêu cầu bị cáo B phải bồi thường gì.
Tại bản cáo trạng số 28/CT-VKS ngày 21/6/2021, Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương truy tố bị cáo Vũ Trọng B về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo Vũ Trọng B thành khẩn khai nhận hành vi phạm tội của mình và công nhận Cáo trạng mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là đúng. Bị hại trong vụ án là ông C, ông M và bà H vắng mặt tại phiên tòa đều có đơn xét xử vắng mặt, không yêu cầu bị cáo bồi thường và đề nghị xét xử bị cáo theo quy định của pháp luật.
Tranh luận tại phiên tòa, Kiểm sát viên thực hành quyền công tố và kiểm sát xét xử tại phiên tòa trình bày quan điểm giữ nguyên nội dung cáo trạng đã truy tố. Trên cơ sở phân tích, đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hậu quả, điều kiện, nguyên nhân phạm tội, nhân thân của bị cáo. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử:
Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Trọng B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt chính: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Vũ Trọng B từ 14 tháng đến 17 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 13/4/2021.
Về hình phạt bổ sung: Không đề nghị áp dụng.
Về trách nhiệm dân sự: Không phải giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Không phải giải quyết.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 BLTTHS; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội. Buộc bị cáo phải chịu án phí sơ thẩm hình sự theo quy định.
Tại lời nói sau cùng, bị cáo thể hiện thái độ ăn năn hối cải và đề nghị Hội đồng xét xử xem xét cho bị cáo được hưởng mức án thấp nhất.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tính hợp pháp của các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Bình Giang; Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang; Điều tra viên; Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố; điều tra viên, kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về hành vi của bị cáo Vũ Trọng B:
Lời khai của bị cáo tại phiên tòa phù hợp lời khai của bị cáo trong quá trình điều tra, của bị hại, người làm chứng; phù hợp với biên bản xác định hiện trường, biên bản thực nghiệm điều tra, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra công khai tại phiên tòa. Từ những chứng cứ nêu trên, có đủ cơ sở để kết luận:
Lợi dụng đêm tối và sơ hở trong việc quản lý tài sản của các chủ sở hữu, Vũ Trọng B đã có hành vi lén lút thực hiện 03 vụ chiếm đoạt tài sản bao gồm:
Khoảng 00 giờ ngày 01/12/2020, B chiếm đoạt 01 cây hoa trà trị giá 2.000.000đ của bà Vũ Thị Thanh H ở thôn VL, xã VH, huyện Bình Giang, tỉnh Hải Dương; Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 12/01/2021, chiếm đoạt cây mẫu đơn hoa vàng, trị giá 6.000.000đ của gia đình ông Phạm Văn C ở khu 3, thị trấn KS, huyện Bình Giang và khoảng 00 giờ ngày 12/3/2021, chiếm đoạt cây mẫu đơn hoa đỏ trị giá 2.000.000đ của gia đình ông Phạm Xuân M ở Khu Th, thị trấn KS, huyện Bình Giang. Tổng giá trị tài sản bị cáo Vũ Trọng B đã chiếm đoạt trong 03 vụ nêu trên là 10.000.000đ. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự; nhận thức rõ hành vi lợi dụng sơ hở trong quản lý tài sản của chủ sở hữu để thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật và gây hậu quả nguy hiểm cho xã hội nhưng vì mục đích vụ lợi bị cáo vẫn thực hiện với lỗi cố ý. Hành vi của bị cáo đã xâm phạm tới quyền sở hữu về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo thực hiện 03 vụ chiếm đoạt tài sản là cây cảnh với tổng giá trị tài sản là 10.000.000đ nên có đủ cơ sở khẳng định hành vi của bị cáo đã cấu thành tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự. Viện kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang truy tố bị cáo theo tội danh và điều luật nêu trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo thực hiện 03 hành vi chiếm đoạt tài sản không liên tục với nhau về mặt thời gian, giá trị tài sản của mỗi lần đều từ 2.000.000đ nên phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Ngoài ra nhân thân của bị cáo còn thể hiện bị cáo có 01 tiền án tại Bản án số 33/2019/HS-ST ngày 29/5/2019 của Tòa án nhân dân huyện Bình Giang và ngày 28/4/2020 bị cáo chấp hành xong toàn bộ bản án, tính đến thời điểm bị cáo thực hiện hành vi phạm tội xác định bị cáo chưa được xóa án tích do đó bị cáo còn phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “Tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo về hành vi phạm tội của mình và tự thú với cơ quan điều tra để làm rõ 02 hành vi trộm cắp tài sản bị cáo đã thực hiện trước đó nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo có bố đẻ là ông Vũ Ngọc D là người có công với cách mạng (thuộc đối tượng bệnh binh) nên bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự
Về hình phạt: Căn cứ quy định của Bộ luật hình sự, cân nhắc tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, Hội đồng xét xử thấy rằng: Bị cáo B là người có nhân thân xấu, đã từng bị kết án và bị xử phạt hành chính về hành vi trộm cắp tài sản nhưng không lấy đó làm bài học cho bản thân mà vẫn tiếp tục thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của người khác thể hiện ý thức coi thường pháp luật do vậy cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn mới đảm bảo tác dụng giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung trong xã hội.
Về hình phạt bổ sung: Bị cáo không có thu nhập và không có tài sản nên không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 15/4/2021, Cơ quan điều tra – Công an huyện Bình Giang đã trả lại ông Phạm Văn C cây mẫu đơn hoa vàng; ngày 20/5/2021 đã trả lại ông Phạm Xuân M cây mẫu đơn hoa đỏ và trả bà Vũ Thị Thanh H cây hoa trà. Sau khi nhận lại tài sản, ông C, ông M và bà H không yêu cầu bị cáo phải bồi thường gì thêm nên trách nhiệm dân sự trong vụ án không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về xử lý vật chứng: Đối với số cây cảnh thu giữ của Vũ Trọng B gồm 01 cây mẫu đơn hoa đỏ, 01 cây mẫu đơn hoa vàng, 01 cây hoa trà đã được Cơ quan điều tra – Công an huyện Bình Giang đã trả lại cho các bị hại là chủ sở hữu hợp pháp và đối với chiếc xe mô tô BKS 34F1-145.71, quá trình điều tra xác định ông Vũ Ngọc D là chủ sở hữu hợp pháp, ông D không biết bị cáo B mượn xe và sử dụng để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nên ngày 18/5/2021, cơ quan điều tra đã trả lại ông D là phù hợp nên về vật chứng của vụ án không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về các vấn đề khác: Đối với ông Vũ Ngọc D cho B mượn xe mô tô 34F1-145.71 nhưng không biết bị cáo sử dụng phạm tội nên hành vi của ông D không vi phạm pháp luật.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm g, h khoản 1 Điều 52; điểm r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự; Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự; Luật phí và lệ phí số 97/2015/QH 13 ngày 25/11/2015 của Quốc hội và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Vũ Trọng B phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Vũ Trọng B 14 (mười bốn) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 13/4/2021.
3. Về án phí: Buộc bị cáo Vũ Trọng B phải chịu 200.000đ án phí sơ thẩm hình sự.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết./.
| Nơi nhận: - Bị cáo; - Bị hại; - Viện Kiểm sát nhân dân huyện Bình Giang; - Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Hải Dương; - Cơ quan CSĐT - Công an huyện Bình Giang; - Cơ quan THAHS - CA tỉnh Hải Dương; - Trại tạm giam – Công an tỉnh Hải Dương; - Chi cục THADS huyện Bình Giang; - Sở tư pháp tỉnh Hải Dương; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu VP. | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Duy Hải |