- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Anh H cùng đồng phạm về tội cố ý gây thương tích - phạm tội cố ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác (điều 1…"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh H ; chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành C .
- Căn cứ chính? Điều 134 Bộ luật Hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 51 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2021/HS-PT Ngày 04-3-2021 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Mai Văn Triến.
Các Thẩm phán:
+ Ông Võ Văn Ngầu;
+ Ông Phạm Văn Tâm.
- Thư ký phiên tòa: Bà Hà Thị Cẩm Vân, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Việt - Kiểm sát viên.
Ngày 04 tháng 3 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm C khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 22/2021/TLPT-HS ngày 25 tháng 01 năm 2021 đối với bị cáo Nguyễn Anh H và Nguyễn Thành C , do có kháng cáo của hai bị cáo đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 91/2020/HS-ST ngày 16 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã T , tỉnh Tây Ninh.
- Bị cáo có kháng cáo:
1. Nguyễn Anh H , sinh ngày 22-6-2001, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: số 10, khu phố N, phường S, thành phố T , tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: tài xế; trình độ văn hoá: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn K và bà Nguyễn Thị Bích Đ; vợ, con: chưa có; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
2. Nguyễn Thành C , sinh ngày 18-10-2001, tại tỉnh Tây Ninh; nơi cư trú: ấp Tr, xã L, huyện D, tỉnh Tây Ninh; nghề nghiệp: làm mướn; trình độ văn hoá: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: không có; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn T và bà Cao Thu S; vợ, con: chưa có; tiền án: không có; tiền sự: không có; bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: anh Nguyễn Quang H, sinh năm 2001; cư trú tại: ấp L, xã Đ, thị xã T, tỉnh Tây Ninh; Toà án không triệu tập.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 00 giờ ngày 20-11-2019, Nguyễn Thành C điều khiển xe mô-tô, biển số 70E1-495.23 chở Nguyễn Anh H đến Quốc lộ 22B thuộc khu vực ấp Long Yên, xã Long Thành Nam, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh để xem nhóm thanh niên tụ tập chạy xe mô-tô tốc độ cao biểu diễn, lúc đi H có mang theo một con dao lưỡi bằng kim loại dài 24,5 cm, phần cán bọc nhựa màu xanh dài 12,7 cm.
Khi đến nơi, H và C dừng xe đứng cặp lề đường xem những người khác chạy xe mô-tô biểu diễn với tốc độ cao. Trong lúc H đứng xem thì Nguyễn Quang H, sinh năm 2001, ngụ ấp L, xã Đ, thị xã T , tỉnh Tây Ninh điều khiển xe mô-tô chạy với tốc độ cao ngang qua gần va vào người H nên H tức giận.
Ngay khi nhóm người chạy xe biểu diễn giải tán, H rủ C đuổi theo đánh Huy. C đồng ý nên điều khiển xe mô-tô, biển số 70E1-495.23 chở H ngồi sau trên tay cầm dao đuổi theo xe của Huy từ Quốc lộ 22B chạy theo đường Nguyễn Văn Cừ đến đoạn giao nhau với đường Tôn Đức Thắng thuộc khu vực ấp Long Bình, xã Long Thành Nam, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh thì đuổi kịp xe Huy nên Huy bỏ xe chạy bộ vào đường hẻm trên đường Nguyễn Văn Cừ, lúc này C chở H tiếp tục đuổi theo. Khi Huy bị trượt chân ngã xuống mương thoát nước cặp lề đường, liền lúc này H xuống xe, cầm dao đi tới chém trúng vào nón bảo hiểm, trúng vào cẳng tay trái và trúng vào mặt mu ngón II bàn tay trái của Huy gây thương tích.
Sau khi chém xong, H cầm dao lên xe để C chở về nhà. Riêng Huy được người dân đưa đi cấp cứu, sau đó gia đình đưa Huy đến Bệnh viện Chấn thương Chỉnh hình Thành phố Hồ Chí Minh điều trị. Đến ngày 11-3-2020, Huy làm đơn yêu cầu khởi tố hình sự gửi đến Cơ quan Cảnh sát điều tra C an thị xã Hòa Thành. Hiện con dao là hung khí gây án đã được thu giữ.
Tại Bản kết luận giám định pháp y về thương tích số: 80/2020/TgT ngày 11-5-2020 của Trung tâm Pháp y thuộc Sở Y tế tỉnh Tây Ninh kết luận đối với Nguyễn Quang Huy:
- 01 vết sẹo mặt sau trong 1/3 dưới cẳng tay trái, kích thước 8,5 x 0,3 cm lành tốt;
- 01 vết sẹo mặt mu ngón II bàn tay trái, kích thước 1,5 x 0,2 cm lành tốt;
- Mẻ 1/3 dưới xương trụ trái;
- Tỷ lệ tổn thương cơ thể của Nguyễn Quang Huy do thương tích gây nên hiện tại là 06% (sáu phần trăm).
Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 91/2020/HS-ST ngày 16 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã T , tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Anh H và Nguyễn Thành C phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
Căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự:
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh H 09 (chín) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
- Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành C 06 (sáu) tháng tù; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về các biện pháp tư pháp, án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 25 tháng 12 năm 2020, bị cáo Nguyễn Anh H có đơn kháng cáo, nội dung xin được hưởng án treo, với lý do chưa có tiền án, tiền sự, luôn chấp hành tốt các chính sách pháp luật của Nhà nước; đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; mức án 9 tháng đối với bản thân là nặng.
Ngày 29 tháng 12 năm 2020, bị cáo Nguyễn Thành C có đơn kháng cáo, nội dung xin được hưởng án treo, với lý do phạm tội lần đầu, không trực tiếp gây ra thương tích cho bị hại; đang làm C nhân xí nghiệp; mức án 6 tháng đối với bản thân là nặng.
Ngày 03 tháng 02 năm 2021, bị cáo Nguyễn Thành C có đơn kháng cáo bổ sung, nội dung xin được hưởng án treo hoặc cải tạo không giam giữ.
Tại phiên tòa, các bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của các bị cáo Nguyễn Anh H và Nguyễn Thành C ; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Bị cáo không tranh luận.
Bị cáo nói lời nói sau cùng:
+ Nguyễn Anh H : bị cáo đã hối hận về hành vi của mình, xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
+ Nguyễn Thành C : xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt để có điều kiện phụ giúp gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng: Xét các hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm đều hợp pháp. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo xác định trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử vụ án tại cấp sơ thẩm, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng của cấp sơ thẩm.
Về tội danh và điều luật áp dụng: khoảng 00 giờ ngày 20-11-2019, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ mà bị cáo C đã có hành vi điều khiển xe mô-tô chở bị cáo H truy đuổi bị hại Huy từ đường Quốc lộ 22B thuộc khu vực ấp Long Yên, xã Long Thành Nam, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh đến đường hẻm trên đường Nguyễn Văn Cừ thuộc khu vực ấp Long Bình, xã Long Thành Nam, thị xã Hòa Thành, tỉnh Tây Ninh và bị cáo H đã sử dụng một con dao là hung khí nguy hiểm chém trúng vào nón bảo hiểm, trúng vào cẳng tay trái và trúng vào mặt mu ngón II bàn tay trái của bị hại Huy gây thương tích làm tổn thương cơ thể 06%. Toà án cấp sơ thẩm xét xử bị cáo Nguyễn Anh Hvà Nguyễn Thành C về tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định tại điểm a, i khoản 1 Điều 134 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ.
Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, tuy có đồng phạm nhưng mang tính giản đơn; hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, mang tính chất côn đồ và có sử dụng hung khí nguy hiểm để gây án; đã xâm phạm đến sức khoẻ của người khác đồng thời gây mất trật tự trị an xã hội nên cần nghiêm trị.
Toà án cấp sơ thẩm đã đánh giá đúng tính chất của đồng phạm, tính chất và mức độ tham gia của từng người đồng phạm như: bị cáo H giữ vai trò là người khởi xướng, trực tiếp gây thương tích cho bị hại và rủ bị cáo C truy đuổi để chém bị hại; bị cáo C giữ vai trò là đồng phạm giúp sức, trực tiếp điều khiển xe mô-tô chở bị cáo H truy đuổi bị hại, nên bị cáo H phải chịu mức án cao hơn bị cáo C là phù hợp.
Khi quyết định hình phạt, Toà án cấp sơ thẩm đã có xem xét các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng đối với các bị cáo như:
+ Về tình tiết giảm nhẹ: Các bị cáo đều phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; trong quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
+ Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo đều không có tình tiết tăng nặng.
Xét yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh Hvà Nguyễn Thành C :
6.1. Đối với bị cáo Nguyễn Anh H : Do bị cáo H phạm tội mang tính côn đồ nên thuộc những trường hợp không cho hưởng án treo theo quy định tại Điều 3 Nghị quyết số: 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15-5-2018 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, từ đó không thể chấp nhận theo yêu cầu kháng cáo của bị cáo;
6.2. Đối với bị cáo Nguyễn Thành C : Do bị cáo C giữ vai trò là người đồng phạm giúp sức, trực tiếp điều khiển xe mô-tô chở bị cáo H truy đuổi bị hại, mức độ phạm tội của bị cáo thấp hơn bị cáo H . Xét thấy bị cáo C có nơi cư trú rõ ràng, không cần thiết phải cách ly bị cáo khỏi xã hội, đối chiếu với quy định tại Điều 36 của Bộ luật Hình sự, có căn cứ chấp nhận theo yêu cầu kháng cáo của bị cáo xin được hưởng hình phạt cải tạo không giam giữ..
6.3. Do bị cáo C có đơn xin miễn khấu trừ thu nhập (đề ngày 03-02-2021), có xác nhận của chính quyền địa phương nên miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo C .
Từ những phân tích nêu trên, chấp nhận một phần đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên toà; sửa bản án sơ thẩm.
Về án phí: Theo quy định tại điểm b, d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án: bị cáo H phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo C không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
Toà án cấp sơ thẩm không viện dẫn thêm Điều 58 của Bộ luật Hình sự là chưa đầy đủ nên cần bổ sung ở cấp phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào điểm b khoản 1 Điều 355 và Điều 357 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
2. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Anh H ; chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Thành C .
3. Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số: 91/2020/HS-ST ngày 16 tháng 12 năm 2020 của Tòa án nhân dân thị xã T , tỉnh Tây Ninh.
4. Căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 38, 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Anh H09 (chín) tháng tù về tội “Cố ý gây thương tích”; thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án.
5. Căn cứ vào điểm a, i khoản 1 Điều 134; điểm i, s khoản 1 Điều 51; Điều 36, 58 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành C 01 (một) năm cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý gây thương tích”.
Giao bị cáo C cho Uỷ ban nhân dân xã Lộc Ninh, huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh để giám sát, giáo dục. Gia đình người bị kết án có trách nhiệm phối hợp với Uỷ ban nhân dân xã Lộc Ninh trong việc giám sát, giáo dục người đó.
Thời hạn cải tạo không giam giữ được tính từ ngày Uỷ ban nhân dân xã Lộc Ninh nhận được quyết định thi hành án và bản sao bản án.
Trường hợp người bị kết án cải tạo không giam giữ thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Điều 100 của Luật Thi hành án hình sự.
Miễn khấu trừ thu nhập hàng tháng đối với bị cáo C .
6. Về án phí: Căn cứ vào điểm b, d khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án. Bị cáo H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm; bị cáo C không phải chịu tiền án phí hình sự phúc thẩm.
7. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.
8. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Vụ GĐKT 1 (TANDTC); - VKSND. TTN; - TAND. thị xã T; - Chi cục THADS. thị xã T; - C an thị xã T; - Phòng PV 06 CATTN; - Phòng lý lịch STP. TTN; - Phòng KTNV. TATTN; - Bị cáo; - Những người tham gia tố tụng khác; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án HSPT. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Mai Văn Triến |