vanban.org

Bản án 40/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

Bà Nguyễn Thị Q được ly hôn ông Lê Quang Th. Giao cháu Lê Nguyễn Quang H sinh ngày 14/4/2011 cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng, ông Th không cấp dưỡng nuôi con. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyễn Thị Q- Lê Quang Th "Ly hôn, tranh chấp về nuôi con""
  • Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 144 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI
TỈNH QUẢNG NGÃI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2021/HNGĐ - ST
Ngày: 30/9/2021
V/v “Ly hôn, tranh chấp
về nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ QUẢNG NGÃI, TỈNH QUANG NGÃI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thúy Ly;

- Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Hoàng Minh Tân;

2. Ông Nguyễn Đình Dũng;

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Văn Dương là Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi tham gia phiên tòa: Ông Trần Hoàng Hưng- Kiểm sát viên.

Ngày 30 tháng 9 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 112/2021/TLST-HNGĐ ngày 02/4/2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 84/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 25/6/2021, Thông báo về việc cHển ngày xét xử số 48/TB-TA ngày 07/7/2021, Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 63/TB-TA ngày 20/7/2021, Quyết định hoãn phiên tòa số 93/2021/QĐST-HNGĐ ngày 13/8/2021, Thông báo về việc không thể mở lại phiên tòa số 89/TB-TA ngày 01/9/2021, Thông báo về việc mở lại phiên tòa số 108/TB-TA ngày 13/9/2021 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Q sinh năm 1991; địa chỉ: Xã Đ, huyện M, tỉnh Quảng Ngãi, có mặt.

2. Bị đơn: Anh Lê Quang Th, sinh năm 1987; địa chỉ: Phường L, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo Đơn khởi kiện đề ngày 22/3/2021, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa bà Nguyễn Thị Q trình bày:

Bà và ông Lê Quang Th tự nguyện tìm hiểu, đăng ký kết hôn ngày 01/9/2010 tại Ủy ban nhân dân phường L, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi. Vợ chồng chung sống hạnh phúc tại nhà cha mẹ đẻ của ông Th tại Phường L, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi, đến năm 2015 thì vợ chồng bắt đầu phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân do ông Th không chịu khó làm ăn, ham mê cờ bạc, thường xuyên sử dụng rượu, bia, đánh đập, chửi bới vợ con, bà Q và gia đình hai bên đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng ông Th không sửa đổi, nên cuối năm 2015 bà Q đã đưa con về sống ở nhà mẹ đẻ, vợ chồng ly thân từ đó đến nay. Nay tình cảm vợ chồng giữa bà và ông Th không còn, mục đích hôn nhân không đạt được, nên bà yêu cầu Tòa giải quyết cho bà được ly hôn với ông Th.

Về con chung: Bà và ông Th có một người con chung là cháu Lê Nguyễn Quang H sinh ngày 14/4/2011, hiện cháu H đang ở với mẹ. Khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Bà Q trình bày bà và ông Th không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Bà Q trình bày bà và ông Th không có.

* Bị đơn ông Lê Quang Th đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa và không có văn bản ghi ý kiến gởi đến Tòa án.

*Ý kiến đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Quảng Ngãi tại phiên tòa: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký tuân theo đúng pháp luật tố tụng dân sự về xác định quan hệ pháp luật, tư cách đương sự, thẩm quyền, thời hạn chuẩn bị xét xử, xác minh thu thập chứng cứ, thời hạn tống đạt các văn bản tố tụng, gởi hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu, trình tự, thủ tục phiên tòa; nguyên đơn tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự; bị đơn không tuân theo đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, bà Nguyễn Thị Q được ly hôn với ông Lê Quang Th, giao cháu Lê Nguyễn Quang H sinh ngày 14/4/2011 cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng, ông Th không cấp dưỡng nuôi con, tài sản chung và nợ chung không có, bà Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng bị đơn ông Lê Quang Th vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt bị đơn.

Về nội dung:

Xét về quan hệ hôn nhân: Bà Q và ông Th tự nguyện đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường Lê Hồng Phong, thành phố Quảng Ngãi vào ngày 01/9/2010 nên đây quan hệ hôn nhân hợp pháp. Theo bà Q trình bày nguyên nhân phát sinh mâu thuẫn là do ông Th không chịu khó làm ăn, ham mê cờ bạc, thường xuyên sử dụng rượu, bia, đánh đập, chửi bới vợ con, bà Q và gia đình hai bên đã khuyên nhủ nhiều lần nhưng ông Th không sửa đổi, tiếp tục đánh đập, hành hung vợ con, cuối năm 2015 bà Q đã đưa con về nhà mẹ đẻ sống từ đó đến nay, vợ chồng ly thân, phần ai nấy sống. Theo Biên bản xác minh ngày 27/5/2021 tại trụ sở Ủy ban nhân dân phường L, thành phố QNgãi thì đại diện chính quyền địa phương xác nhận “Ông Lê Quang Th và bà Nguyễn Thị Q là công dân cư trú tại phường L, thành phố QNg, tỉnh Quảng Ngãi. Trong thời gian cư trú ở địa phương, ông Th và bà Q có xảy ra mâu thuẫn hay không thì chính quyền không nắm rõ, vì họ không báo cáo chính quyền, tại thời điểm hiện tại ông Th đang có mặt tại địa phương”. Tòa án đã thực hiện thủ tục tống đạt các văn bản tố tụng đối với ông Th. Trong thời hạn luật định ông Th không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn; quá trình giải quyết vụ án không đến Tòa án để làm việc, hòa giải; không đến phiên tòa để trình bày. Căn cứ khoản 4 Điều 91 và khoản 2 Điều 92 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử giải quyết vụ án theo những chứng cứ đã thu thập được có trong hồ sơ, theo tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp không phải chứng minh thì yêu cầu ly hôn của nguyên đơn là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận.

Xét về con chung: Bà Q và ông Th có một người con chung là Lê Nguyễn Quang H sinh ngày 14/4/2011, cháu hiện đang sống bà Q. Bà Q cung cấp Giấy khai sinh cháu H, hợp đồng lao động thể hiện bàp Q có việc làm, có khả năng đảm bảo nuôi con, cháu H còn nhỏ hiện đang sống ổn định với bà Q, cháu có nguyện vọng muốn ở với mẹ, trong thời hạn luật định ông Th không có ý kiến phản đối yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Vì vậy để đảm bảo quyền lợi về mọi mặt của cháu H, Hội đồng xét xử nhận thấy yêu cầu trực tiếp nuôi con, không yêu cầu ông Th cấp dưỡng nuôi con của bà Q là có căn cứ, Hội đồng xét xử chấp nhận. Ông Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà Q trình bày bà và ông Th không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Trong thời hạn luật định, ông Th không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Về án phí: Bà Q phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận;

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào Điều 19, khoản 1 Điều 56, 81, 82, 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 91, khoản 2 Điều 92, 144, 147, 227, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội tuyên xử:

1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị Q về việc “Ly hôn, tranh chấp về nuôi con”.

2. Bà Nguyễn Thị Q được ly hôn ông Lê Quang Th.

3. Giao cháu Lê Nguyễn Quang H sinh ngày 14/4/2011 cho bà Q trực tiếp nuôi dưỡng, ông Th không cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn ông Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.

4. Về tài sản chung, nợ chung của bà Nguyễn Thị Q và ông Lê Quang Th: Hội đồng xét xử không giải quyết.

5. Bà Nguyễn Thị Q phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được khấu trừ 300.000 (Ba trăm nghìn đồng) Bà Nguyễn Thị Q đã nộp tạm ứng theo biên lai thu số AA/2018/0006936 ngày 02/4/2021 của Chi cục Thi hành án dân sự Th phố Quảng Ngãi, tỉnh Quảng Ngãi.

5. Nguyên đơn có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị đơn vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án theo quy định pháp luật.

Cỡ chữ