vanban.org

Bản án 40/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Căn cứ: khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/20…

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đoà n Thị T được ly hôn anh Nguyễn Ngọc T. Về quan hệ con chung: Chị Đoà n Thị T và anh Nguyễn Ngọc T1 có 01 con chung là cháu Nguyễn An N - sinh ngày 12/8/2018. Ly hôn giao con Nguyễn An N cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi tròn 18 tuổi, anh Ngu… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "T - T1"
  • Tòa quyết gì? Căn cứ: khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/20…
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN TIỀN HẢI
TỈNH THÁI BÌNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2021/HNGĐ - ST
Ngày: 08 - 9 - 2021
V/v: tranh chấp Hôn nhân và gia
đình (T – T1)

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN TIỀN HẢI, TỈNH THÁI BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vũ Văn Lợi

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Văn Hiểu

2. Bà Phan Thị Hạnh Mỹ

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Phƣơng Thảo - Thư ký TAND huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình.

Trong ngày 08 tháng 9 năm 2021 tại: Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 97/2021/TLST - HNGĐ ngày 09 tháng 6 năm 2021 về tranh chấp "Hôn nhân và gia đình". Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2021/QĐXX-ST ngày 19 tháng 8 năm 2021 giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Chị Đoà n Thị T - sinh năm 1988

Địa chỉ: khu 1, thôn Đ, xã T, huyệ n T, tỉnh Thái Bình.

Bị đơn: Anh Nguyễn Ngọc T1 - sinh năm 1984

HKTT: khu 1, thôn Đ, xã T, huyệ n T, tỉnh Thái Bình.

Địa chỉ: thôn C, xã P, huyện T, tỉnh Thái Bình.

(chị T, anh T1 đều có đề nghị xét xử vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện, bản tự khai và quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn chị Đoà n Thị T trình bày:

Về hôn nhân: Chị và anh Nguyễn Ngọc T1 tự nguyệ n tì m hiể u, đi đế n hôn nhân, có tổ chức lễ cưới vào ngày 10/10/2017. Sau đó đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Thái Bình vào ngày 23/11/2017. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được khoảng ba năm thì phá t sinh mâu thuẫ n , nguyên nhân mâu thuẫ n là do vợ chồ ng không tì m đượ c tiế ng nó i chun g trong việ c phá t triể n kinh tế gia đì nh , nuôi dậ y con dẫ n đế n gia đì nh thườ ng xuyên mâu thuẫ n ả nh hưở ng nghiêm trọ ng đế n đờ i số ng chung cũ ng như tâm sinh lý và việ c họ c hà nh củ a cá c con đặ c biệ t là con riêng củ a chị . Mặ c dù đã đượ c hai bên gia đì nh khuyên nhủ và hà n gắ n nhưng cuộ c số ng vợ chồ ng vẫ n không thể tì m đượ c tiế ng nó i chung. Từ đầ u năm 2020 cho đế n nay vợ chồ ng đã số ng ly thân , không ai quan tâm đế n cuộ c số ng củ a ai . Nay chị thấ y cuộ c số ng vợ chồ ng không thể hò a hợ p , hôn nhân không mang lạ i hạ nh phú c vì vậ y chị đề nghị Tò a án giải quyết cho chị được ly hôn với anh T1.

Về con chung: Chị và anh Nguyễn Ngọc T1 có 1 con chung là Nguyễn An N - sinh ngày 12/8/2018. Hiện con đang sinh sống cùng chị thôn Đ, xã T, huyệ n T, tỉnh Thái Bình . Ly hôn chị có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung và không yêu cầu anh Tuân phải cấp dưỡng nuôi con cùng chị vì hiệ n tại chị có đầy đủ điề u kiệ n kinh tế , thờ i gian để chăm só c , nuôi dậ y con trưở ng thành phát triển tốt nhất.

Về tài sản: Chị và anh T1 không có tà i sả n chung , không cho ai vay nợ vì vậ y không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại bản tƣ̣ khai do anh Nguyễ n Ngọc T1 gƣ̉ i về có lờ i chƣ́ ng củ a công chƣ́ ng viên, anh trình bày: anh đã nhậ n đượ c thông bá o thụ lý vụ á n củ a Tò a án gửi cho anh. Bản thân anh đã ký và viết vào đơn ly hôn cùng chị T. Anh cũ ng nhậ n đượ c cá c tà i liệ u c hứ ng cứ chị T gử i cho Tò a á n vì c hị T đã thông bá o cho anh.

Về hôn nhân: Về thờ i gian, đị a điể m kế t hôn và điề u kiệ n kế t hôn như c hị T trình bày. Vợ chồ ng anh chị đề u đã trả i qua mộ t lầ n hôn nhân không hạ nh phúc, nhữ ng tưở ng sau khi tì m hiể u kỹ và đi đế n hôn nhân sẽ tạ o cho nhau bế n đỗ hạ nh phú c lâu dà i. Tuy nhiên quá trì nh chung số ng vợ chồ ng phá t sinh nhiề u mâu thuẫ n nghiêm trọ ng, hạnh phúc gia đình không có, không thể tiế p tụ c chung số ng. Nguyên nhân là do không tì m đượ c tiế ng nó i chung trong cuộ c số ng , cách nuôi dậ y cá c con chung , con riêng củ a vợ chồ ng . Mặ c dù cố ní u ké o hạ nh phú c gia đì nh và đã đượ c hai bên gia vun vé n nhưng vợ chồ ng vẫ n không thể hòa giải đoà n tụ , không có tiế ng nó i chung trong hôn nhân . Từ đầ u năm 2020 cho đế n nay vợ chồ ng đã số ng ly thân k hông ai quan tâm đế n ai . Nay chị T khở i kiệ n ly hôn anh tạ i Tò a á n, anh cũ ng đồ ng ý ly hôn vớ i chị Đoà n Thị T.

Về con chung: Vợ chồng anh chị có 01 con chung như chị T trình bày hiện con đang sinh số ng cù ng chị T. Ly hôn anh đồ ng ý để chị T trự c tiế p chăm só c , nuôi dưỡ ng con chung và anh không phả i cấ p dưỡ ng nuôi con chu ng cùng chị Đoà n Thị T.

Về tài sản: Quá trình chung sống vợ chồ ng anh không có tài sản chung, không vay nợ ai và cho ai vay nợ nên không yêu cầ u Tò a á n giả i quyế t.

Do điề u kiệ n công việ c hiệ n tạ i củ a anh rấ t bậ n và tì nh hì nh dịch bệnh anh không có thờ i gian để về Tò a á n giả i quyế t việ c ly hôn giữ a anh và chị T vì vậy anh đề nghị Tò a á n giả i quyế t vắ ng mặ t anh trong suố t quá trì nh tố tụ ng tạ i Tò a án. Mọi thủ tục giấy tờ của Tòa án li ên quan đế n anh , anh ủ y quyề n cho mẹ đẻ anh là bà Đỗ Thị Minh H – sinh năm 1962. Đị a chỉ : thôn C, xã P, huyệ n T, tỉnh Thái Bình thay mặt anh nhận các thủ tục, giấ y tờ nà y.

Tại văn bản ngày 04/8/2021 bà Đỗ Thị Minh H trình bày: Bà là mẹ đẻ củ a anh Nguyễ n Ngọ c T1, bà đã đượ c anh Nguyễ n Ngọ c T 1 thông bá o ủ y quyề n nhậ n cá c văn bả n tố tụ ng củ a Tò a á n, bà chấp nhận với ủy quyền này và có trách nhiệ m thông bá o, giao lạ i cho anh T1. Từ khi vợ chồ ng anh T1 số ng ly thân đầ u năm 2020 cho đế n nay thì anh Tuân chuyể n về sinh số ng cù ng vợ chồ ng bà tạ i thôn C, xã P, huyệ n T, tỉnh Thái Bình. Hiệ n anh T1 đang công tá c tạ i thà nh phố Hồ Chí Minh nhưng vẫ n thườ ng xuyên đi lạ i về thăm gia đì nh

. Do điề u kiệ n công việ c cũ ng như tì nh hì nh dị ch bệ nh vì vậy anh T1 không thể về Tò a á n giả i quyế t việ c ly hôn giữ a hai vợ chồ ng. Bà đề nghị Tòa án giải quyết về việ c ly hôn giữ a anh T1 và chị T theo bả n khai anh T1 đã gử i cho Tò a á n.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng: Tranh chấp giữa chị Đoà n Thị T , anh Nguyễ n Ngọ c T 1 là tranh chấp về ly hôn, nuôi con thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án theo khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự. Anh T1 có hộ khẩ u thường trú tại: khu 1, thôn Đ, xã T, huyện T, tỉnh Thái Bình và đã ký vào đơn ly hôn do chị T giao nộ p cho Tò a á n do đó chị Đoà n Thị T khởi kiện yêu cầ u Tòa án nhân dân huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình giải quyết vụ án là đúng với quy định tại Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Do điề u kiệ n công việ c chị Đoà n Thị T có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt chị. Anh Nguyễ n Ngọ c T1 đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt anh trong suố t quá trì nh tố tụ ng vì công việ c củ a anh và tình hình dịch bệnh hiện tại anh không thể về Tòa án giải quyết việc ly hôn giữ a anh v à chị T do đó Hội đồng xét xử vẫn tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự là phù hợp với quy định tại khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung:

Về quan hệ hôn nhân: chị Đoà n Thị T và anh Nguyễn Ngọc T 1 kết hôn trên cơ sở tự nguyện, cưới có đăng ký kết hôn tại UBND xã P, huyện T, tỉnh Thái Bình ngày 23 tháng 11 năm 2017 đây là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc được 03 năm thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do không tìm được tiếng nói chung trong cuộ c số ng, trong cá ch nuôi dậ y con chun g, con riêng dẫ n đế n gia đì nh thườ ng xuyên mâu thuẫ n ả nh hưở ng nghiêm trọ ng đế n đờ i số ng chung cũ ng như tâm sinh lý và việ c học hành của các con đặc biệt là con riêng. Mặ c dù đã đượ c gia đì nh hai bên hà n gắ n nhưng không có kế t quả . Từ đầ u năm 2020 cho đế n nay anh chị số ng ly thân, không ai quan tâm đế n ai . Như vậy có đủ cơ sở xác định tình cảm vợ chồng giữa chị T, anh T1 không còn, hôn nhân không còn tồn tại trên thực tế, mục đích hôn nhân không đạt được do đó Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Đoà n Thị T và nguyện vọng ly hôn củ a anh Nguyễ n Ngọ c T1, xử cho chị Đoà n Thị T được ly hôn anh Nguyễn Ngọc T1 là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của luật Hôn nhân và gia đình.

Về con chung: Chị Đoà n Thị T và anh Nguyễn Ngọc T 1 có 01 con chung là cháu Nguyễn An N - sinh ngày 12/8/2018, hiện cháu đang sinh sống cùng chị T chị tại xã T, huyệ n T. Việ c chăm só c, nuôi dưỡ ng cháu N hiệ n do chị T thực hiện, cuộc sống của cháu được đảm bảo, có điều kiện phát triển. Ly hôn chị T có nguyện vọng trực tiếp chăm sóc , nuôi dưỡng con chung Nguyễn An N và không yêu cầu anh T 1 phải cấp dưỡng nuôi con cù ng chị . Mặt khác anh T1 cũng đồng ý để chị T trự c tiế p chăm só c , nuôi dưỡ ng con chung và anh không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị . Xét thấy đây là ý chí tự nguyện của các bên đương sự, cháu N ở với chị T có đủ điều kiện phát triển tốt nhất , vì vậy HĐXX chấp nhận yêu cầu của chị T: Giao con chung Nguyễn An N cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi tròn 18 tuổ i cũng như chấp nhận sự tự nguyệ n củ a chị không yêu cầu anh T1 cấp dưỡng nuôi con cùng chị. Anh Nguyễ n Ngọ c T1 có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vấn đề thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi các bên đương sự có yêu cầu là phù hợp với quy định tại Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình.

Về tài sản: Cả hai anh chị đều trình bày anh chị không có tài sản

chung, không cho ai vay nợ và không vay nợ ai nên không yêu cầ u Tò a á n giả i quyế t. Do đó HĐXX không đặt ra giải quyết về phần tài sản.

Về án phí: Chị Đoà n Thị T phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật tố tụng dân sự; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ: khoản 1 Điều 28, Điều 35, khoản 1 Điều 39, khoản 2 Điều 227, Điều 228, khoản 4 Điều 147, Điều 271 và 273 của Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 51, Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82, Điều 83 và Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình; điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 về án phí, lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đoà n Thị T được ly hôn anh Nguyễn Ngọc T.

2. Về quan hệ con chung: Chị Đoà n Thị T và anh Nguyễn Ngọc T1 có 01 con chung là cháu Nguyễn An N - sinh ngày 12/8/2018. Ly hôn giao con Nguyễn An N cho chị T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng đến khi tròn 18 tuổi, anh Nguyễn Ngọc T1 không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng chị T.

Anh T1 có quyền đi lại thăm nom, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vấn đề thay đổi người trực tiếp nuôi con, cấp dưỡng nuôi con được đặt ra giải quyết khi các bên đương sự có yêu cầu.

3. Về quan hệ tài sản: Không có, không đặt ra giải quyết.

4. Về án phí: Chị Đoà n Thị T phải chịu 300.000đ (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển 300.000đ chị Đoà n Thị T đã nộp tạm ứng án phí theo biên lai số 0002153 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiền Hải, tỉnh Thái Bình ngày 09/6/2021 sang thi hành án phí.

5. Về quyền kháng cáo: Chị Đoà n Thị T, anh Nguyễ n Ngọ c T1 có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ