vanban.org

Bản án 40/2021/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Kim Thị Ngọc Q được ly hôn với anh Cao Xà .

Về quyền nuôi con: Giao cho chị Kim Thị Ngọc Q được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Kim Minh D, sinh ngày 02-02-2010, Cao Minh V, sinh ngày 19-07-2015, đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con, buộc anh Cao Xà Q có… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Ly hôn, nuôi con Kim Thị Ngọc Q và Cao Xà Q"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Kim Thị Ngọc Q được ly hôn với anh Cao Xà .
  • Căn cứ chính? Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THẠNH TRỊ
TỈNH SÓC TRĂNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 29-09-2021
V/v ly hôn, tranh chấp nuôi con

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THẠNH TRỊ, TỈNH SÓC TRĂNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Nam.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Thạch Na Rết

Ông Nguyễn Văn Hoành

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Mỹ Anh, Thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Thư - Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 09 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thạnh Trị, tỉnh Sóc Trăng; xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 103/2021/TLST-HNGĐ ngày 24 tháng 05 năm 2021 về việc “Ly hôn, tranh chấp nuôi con”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 100/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 07 năm 2021, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Kim Thị Ngọc Q, sinh ngày 01 tháng 01 năm 1988 (vắng mặt, có đơn xin giải quyết vắng mặt đề ngày 25-09-2021).

Địa chỉ: Ấp Kiết T, xã Lâm , huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.

- Bị đơn: Anh Cao Xà Q, sinh năm 1978 (vắng mặt).

Địa chỉ: Ấp Kiết L, xã Lâm T, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

- Trong đơn khởi kiện ngày 12-04-2021 cũng như quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn chị Kim Thị Ngọc Q trình bày:

Chị và anh Q cưới nhau, sau đó đến ngày 04-05-2015 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Lâm K, huyện Thạnh T, tỉnh Soc Trăng, hôn nhân tự nguyện, thời gian đầu vợ chồng sống hạnh phúc, sau đó phát sinh mâu thuẫn do không hợp nhau, bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Vợ chồng đã ly từ năm 2016 đến nay không còn quan tâm nhau. Do hôn nhân không hạnh phúc, nay chị Quí yêu cầu Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Q.

Về con chung: Vợ chồng có 02 người con tên Kim Minh , sinh ngày 02-02-2010 và Cao Minh V, sinh ngày 19-07-2015, hiện sống với chị, chị xin nuôi con, yêu cầu anh Q cấp dưỡng 02 con, một tháng 1.000.000 đồng/ người con.

Tài sản chung và nợ chung không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn anh Cao Xà Q vắng mặt không có lời trình bày

- Đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa nêu quan điểm:

Tòa án thụ lý vụ án đúng thẩm quyền, xác định chính xác quan hệ pháp luật tranh chấp; thu thập chứng cứ đầy đủ, đúng pháp luật; Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và những người tham gia tố tụng đã tuân thủ đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Riêng anh Q chưa thực hiện theo giấy triệu tập Tòa án.

Đề nghị Hội đồng xét xử cho chị Q được ly hôn với anh Q, lý do ly thân thời gian dài, tình cảm vợ chồng không còn. Về con chung giao cho chị Q được quyền nuôi dưỡng 02 con chung, tài sản chung và nợ chung không xem xét, giải quyết do chị Q không yêu cầu. Về cấp dưỡng nuôi con buộc anh Q cấp dưỡng cho 02 con mỗi tháng là 2.000.000 đồng đến khi con đủ 18 tuổi.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và kết quả tranh tụng tại phiên tòa; Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng: Chị Q yêu cầu ly hôn với anh Q. Quan hệ tranh chấp được pháp luật điều chỉnh tại các Điều 51, 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Thạnh T theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Nguyên đơn chị Q có đơn xin vắng mặt, bị đơn anh Q đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt không lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án xét xử vắng mặt đối với chị Q và anh Q.

Về quan hệ hôn nhân, căn cứ giấy chứng nhận kết hôn số 31, ngày 04-05-2015 của Ủy ban nhân dân xã Lâm K, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng thể hiện anh Q và chị Q đăng ký kết hôn trên cơ sở tự nguyện, do vậy hôn nhân hợp pháp. Lời trình bày của chị Q thể hiện, trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn, luôn bất đồng ý kiến nên ly thân từ năm 2016 đến nay. Sau ly thân, vợ chồng không còn quan tâm thăm hỏi, lo lắng cho nhau, không còn tình thương yêu vợ chồng.

Theo biên xác minh ngày 29-06-2021 của Tòa án đối với ông Cao S cha ruột của anh Q, ông S xác nhận vợ chồng anh Q và chị Q có cãi vã đã ly thân nhau, gia đình có hàn gắn nhưng không được. Tòa án đã tiến hành mời hòa giải nhiều lần nhưng anh Q vẫn vắng mặt. Mặt khác, thời gian vợ chồng ly thân từ năm 2016 đến nay, mạnh người nào chỉ biết bổn phận của người đó, không còn quan tâm, chăm sóc nhau, không làm tròn nghĩa vụ của vợ chồng. Xét thấy, quan hệ hôn nhân giữa anh Q và chị Q đã đến mức trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Nên chị Q xin ly hôn là phù hợp Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình Tòa án chấp nhận yêu cầu của chị Q được ly hôn với anh Q.

Về con chung: Căn cứ giấy khai sinh của Ủy ban nhân dân xã Lâm K, huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng và lời trình bày của chị Q; giữa anh Q và chị Q có hai con chung tên Kim Minh D, sinh ngày 02-02-2010, Cao Minh V, sinh ngày 19-07-2015, hiện đang sống với chị Q. Chị Q yêu cầu được nuôi dưỡng các con, còn anh Q không có ý kiến phản hồi, xét các con sống với chị Q đã ổn định về vật chất, lẫn tinh thần và các con có nguyện vọng sống với chị Q, yêu cầu của chị Q là phù hợp, căn cứ khoản 2 Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định Tòa án giao các con cho chị Q nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng chị Q yêu cầu anh Q cấp dưỡng nuôi con mỗi người một tháng 1.000.000 đồng, xét yêu cầu của chị Q là phù hợp bảo đảm quyền lợi của con chưa thành niên, căn cứ khoản 2 Điều 82 Luật hôn nhân và gia đình quy định “Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con có nghĩa vụ cấp dưỡng cho con” nên buộc anh Q cấp dưỡng mỗi tháng 1.000.000 đồng/01 người con đến khi các con đủ 18 tuổi là phù hợp quy định của pháp luật. Thời gian cấp dưỡng từ ngày xét xử sơ thẩm. Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

Về tài sản chung và nợ chung: Tòa án không xem xét do các đương sự không có yêu cầu.

Về án phí dân sự sơ thẩm: Chị Q là người yêu cầu xin ly hôn nên chị phải chịu án phí 300.000 đồng và anh Q chịu án phí cấp dưỡng 300.000 đồng theo quy định của pháp luật.

Toàn bộ quan điểm, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thạnh Trị có căn cứ pháp luật được Hội đồng xét xử chấp nhận.

Đương sự được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, điểm b khoarn 2 Điều 227, Khoản 1, khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự;

Khoản 1 Điều 51, khoản 1 Điều 56, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014; điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị Kim Thị Ngọc Q được ly hôn với anh Cao Xà .

2. Về quyền nuôi con: Giao cho chị Kim Thị Ngọc Q được quyền trực tiếp nuôi dưỡng hai con chung tên Kim Minh D, sinh ngày 02-02-2010, Cao Minh V, sinh ngày 19-07-2015, đến khi con đủ 18 tuổi. Anh Q có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở. Về cấp dưỡng nuôi con, buộc anh Cao Xà Q có nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi 02 người con D và V mỗi tháng 1.000.000 đồng (một triệu đồng) trên một người đến khi các con đủ 18 tuổi, thời gian cấp dưỡng kể từ ngày xét xử sơ thẩm ngày 29-9-2021.

3. Về tài sản chung và nợ chung: Không xem xét do đương sự không yêu cầu.

4. Án phí dân sự sơ thẩm: Chị Kim Thị Ngọc Q phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí ly hôn, được trừ vào tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000 đồng theo biên lai thu số 0008393 ngày 17-05-2021 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thạnh T, tỉnh Sóc Trăng, chị Q nộp đủ án phí. Bị đơn anh Cao Xà Q chịu án phí cấp dưỡng 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng).

Đương sự có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với chị Kim Thị Ngọc Q và anh Cao Xà Q vắng mặt kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại Ủy ban nhân dân nơi đương sự cư trú để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng xét xử theo thủ tục phúc thẩm.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự. (Luật Thi hành án dân sự đã được sửa đổi, bổ sung năm 2014).

Cỡ chữ