vanban.org

Bản án 40/2021/HNGĐ-ST — Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Xác định anh Trần Văn D, sinh ngày 26-7-1984 có Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục trưởng cục cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư cấp ngày 16-3-2017 là cha đẻ của cháu Trần Bảo Thiên A, sinh ngày 02-9-2020; giới tính: nữ; (đã được khai tên dự định đặt tên con là: Trần Bả…

Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, chị Trần Thị Phương L hoặc anh Trần Văn D có quyền yêu cầu cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh và khai sinh, hộ tịch cho con Trần Bảo Thiên A theo quyết định của Tòa án. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Văn D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồn…

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "xác đinh cha cho con"
  • Tòa quyết gì? Xác định anh Trần Văn D, sinh ngày 26-7-1984 có Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục trưởng cục cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư cấp ngày 16-3-2017 là cha đẻ của cháu Trần Bảo Thiên A, sinh ngày 02-9-2020; giới tính: nữ; (đã được khai tên dự định đặt tên con là: Trần Bả…
  • Căn cứ chính? Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH
TỈNH NAM ĐỊNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2021/HNGĐ-ST
Ngày: 21-01-2021
V/v: Xác định cha cho con chưa thành
niên

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ NAM ĐỊNH, TỈNH NAM ĐỊNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Phạm Văn Bang

Các hội thẩm nhân dân:

Ông Triệu Văn Giản

Bà Nguyễn Thị Kim Anh

- Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Soan – Thư ký Toà án nhân dân thành phố Nam Định.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định tham gia phiên tòa: Bà Vũ Ngọc Thư - Kiểm sát viên.

Ngày 21 tháng 01 năm 2021, tại trụ sở Toà án nhân dân thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 593/2020/TLST-HNGĐ ngày 19 tháng 11 năm 2020 về “Tranh chấp xác định cha cho con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 04/2021/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 01 năm 2021 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Trần Thị Phương L, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Số nhà A, phường V, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Bị đơn: Anh Trần Văn D, sinh năm 1984; Nơi cư trú: Số nhà 375 đường T, phường V, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Anh Trần Viết H, sinh năm 1990; Nơi cư trú: Số nhà 99 đường M, phường N, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định.

Tại phiên tòa, nguyên đơn là chị L và bị đơn là anh D có mặt, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh H vắng mặt không có lý do.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện nộp ngày 19-11-2020, bản tự khai và tại phiên tòa, nguyên đơn chị Trần Thị Phương L trình bày:

Chị và anh Trần Viết H kết hôn năm 2011; trong thời gian chung sống vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Năm 2018 chị và anh H sống ly thân. Trong thời gian vợ chồng sống ly thân chị có quan hệ tình cảm với anh Trần Văn D, sinh năm 1984; nơi cư trú: Số nhà 375 đường Trần Huy Liệu, phường Văn Miếu, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Cuối tháng 12 năm 2019 chị có thai. Tại quyết định công nhận thuận tình ly hôn và sự thỏa thuận của các đương sự số 246/2020/QĐST-HNGĐ ngày 09-6-2020 của Tòa án nhân dân thành phố Nam Định đã giải quyết ly hôn giữa chị và anh Trần Viết H. Ngày 02-9-2020 chị sinh cháu và khai tên dự định đặt tên con trong giấy chứng sinh số 123 quyển số 04 ngày 02-9-2020 tại Bệnh viện đa khoa Công an tỉnh Nam Định là Trần Bảo Thiên A. Nay chị có nguyện vọng khai sinh đặt tên cho cháu là Trần Bảo N. Chị xác định cháu Trần Bảo Thiên A là con đẻ của anh Trần Văn D. Chị đã cho cháu Trần Bảo Thiên A và anh Trần Văn D giám định ADN. Tại Phiếu kết quả phân tích ADN của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền đã kết luận anh Trần Văn D và cháu Trần Bảo Thiên A có quan hệ huyết thống CHA – CON. Chị khởi kiện đề nghị Tòa án xác định anh Trần Văn D là cha đẻ của cháu Trần Bảo Thiên A.

Tại bản tự khai ngày 26-11-2020 và tại phiên tòa bị đơn là anh Trần Văn D trình bày anh và chị Trần Thị Phương L có quan hệ tình cảm nam nữ trong thời gian vợ chồng chị L – anh H sống ly thân. Anh đồng ý với kết quả giám định ADN và xác định cháu Trần Bảo Thiên A là con đẻ của anh.

Tại biên bản xác minh, thu thập chứng cứ ngày 01-12-2020, chính quyền địa phương nơi anh Trần Văn D sinh sống cung cấp: Khoảng tháng 4 – tháng 5 năm 2020 chị Trần Thị Phương L chuyển đến sinh sống cùng anh Trần Văn D; thời gian đó chị L đang mang bầu khá lớn. Tháng 9 năm 2020 chị L sinh con. Ngày 24-9-2020 anh Trần Văn D và chị Trần Thị Phương L đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường V, thành phố Nam Định. Hiện tại chị L, anh D và cháu bé đang sống cùng nhau. Anh D và bố mẹ đẻ của anh D đều nhận cháu nhỏ do chị L sinh ra là con đẻ của anh D.

Tại biên bản xác minh, thu thập chứng cứ ngày 01-12-2020, chính quyền địa phương nơi anh Trần Viết H sinh sống cung cấp: Vợ chồng anh Trần Viết H, chị Trần Thị Phương L sinh sống tại số nhà 99 đường M, phường N, thành phố Nam Định, tỉnh Nam Định. Tuy nhiên đã lâu chị L không còn sinh sống tại đây nữa. Việc vợ chồng anh H và chị L đã ly hôn hay chưa thì tổ dân phố không biết.

Tại Phiếu kết quả phân tích ADN ngày 24-10-2020 của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền; Địa chỉ Tầng 2, tòa nhà HCMCC 249A T, phường T, quận T, thành phố Hà Nội kết luận anh Trần Văn D và cháu Trần Bảo Thiên A có quan hệ huyết thống CHA - CON. Công văn số 61/2020/CV-GEN ngày 05-12-2020 của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền khẳng định việc tiến hành thu mẫu giám định đúng quy trình, quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Nam Định căn cứ vào Điều 21, khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, Điều 39, Điều 48, Điều 97 và Điều 262 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015, nhận xét đánh giá về quá trình tiến hành tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật, đảm bảo quyền và nghĩa vụ của các bên đương sự. Về việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ Điều 88, 101 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Phương L, xác định anh Trần Văn D là cha đẻ của con Trần Bảo Thiên A, sinh ngày 02-9-2020.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên toà, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan là anh Trần Viết H đã được tống đạt hợp lệ đến phiên tòa lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt anh H theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015.

Về nội dung: Chị Trần Thị Phương L và anh Trần Văn D đều thừa nhận có quan hệ tình cảm nam nữ với nhau trong thời gian chị L sống ly thân với chồng là anh Trần Viết H. Chị L và anh D xác định cháu Trần Bảo Thiên A, sinh ngày 02-9-2020 là con đẻ của anh Trần Văn D. Lời khai của các đương sự phù hợp với Phiếu kết quả phân tích ADN ngày 24-10-2020 của Công ty cổ phần dịch vụ phân tích di truyền kết luận anh Trần Văn D và cháu Trần Bảo Thiên A có quan hệ huyết thống CHA – CON. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ vào Điều 88 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 chấp nhận yêu cầu khởi kiện của chị Trần Thị Phương L, xác định anh Trần Văn D là cha đẻ của con Trần Bảo Thiên A, sinh ngày 02- 9-2020.

Về án phí: Căn cứ vào Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn là chị Trần Thị Phương L được chấp nhận, nên bị đơn là anh Trần Văn D phải nộp toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào Điều 88, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ vào Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

1. Xác định anh Trần Văn D, sinh ngày 26-7-1984 có Căn cước công dân số xxxxxxxxxxxx do Cục trưởng cục cảnh sát ĐKQL cư trú và DLQG về dân cư cấp ngày 16-3-2017 là cha đẻ của cháu Trần Bảo Thiên A, sinh ngày 02-9-2020; giới tính: nữ; (đã được khai tên dự định đặt tên con là: Trần Bảo Thiên A) trong Giấy chứng sinh số 123, quyển số 04 của Bệnh viện đa khoa Công an tỉnh Nam Định cấp ngày 02-9-2020.

Sau khi Bản án có hiệu lực pháp luật, chị Trần Thị Phương L hoặc anh Trần Văn D có quyền yêu cầu cơ quan quản lý Nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh và khai sinh, hộ tịch cho con Trần Bảo Thiên A theo quyết định của Tòa án.

2. Án phí dân sự sơ thẩm: Anh Trần Văn D phải nộp 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng).

3. Quyền kháng cáo: Chị Trần Thị Phương L và anh Trần Văn D được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Anh Trần Viết H được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tống đạt hợp lệ bản án theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Cỡ chữ