vanban.org

Bản án 40/2020/ST-HNGĐ — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng: khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 207; 227; 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị La Thị D ly hôn anh La Văn Đ. Về con chung: Giao cháu La Minh Đ, sinh ngày 15/9/2011 và cháu La Thị Bảo Tr, sinh ngày 20/12/2013 cho chị La Thị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Đ và cháu Tr tròn 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp hôn nhân và gia đình"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng: khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 207; 227; 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN CON CUÔNG
TỈNH NGHỆ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2020/ST - HNGĐ
Ngày 27/5/2020
V/v Tranh chấp Hôn nhân và gia đình

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CON CUÔNG - TỈNH NGHỆ AN

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Bảo.

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Đình Nhàn.

2. Bà Vi Thị Đng.

Thư ký phiên tòa: Ông Ngân Mai Quỳnh - Thư ký Toà án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Xuân - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 5 năm 2020, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số: 18/2020/TLST - HNGĐ ngày 13/02/2020 về việc “Tranh chấp Hôn nhân và gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 01/2020/QĐXX – DS ngày 20 tháng 4 năm 2020 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Chị La Thị D, sinh năm 1988.

2. Bị đơn: Anh La Văn Đ, sinh năm 1984.

Đều có địa chỉ tại: Bản CS, xã CK, huyện CC, tỉnh NA. Chị D có mặt, anh Đ vắng mặt.

Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho chị La Thị D có ông Phạm Thế Kỷ - Trợ giúp viên thuộc trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Nghệ An.

NỘI D VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện của nguyên đơn, lời trình bày tại Tòa án và tại phiên tòa chị La Thị D trình bày: Chị với anh La Văn Đ kết hôn với nhau vào ngày 25/02/2011 tại Ủy ban nhân dân xã CK, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyện. Vợ chồng chị chung sống hạnh phúc được một thời gian. Đến đầu năm 2018 thì xảy ra mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng mâu thuẫn là do anh Đ không chịu khó làm ăn, vợ chồng luôn bất đồng quan điểm sống, vợ chồng thường xuyên cãi vã, không tôn trọng nhau. Mặc dù đã được chị khuyên nhủ nhiều lần nhưng anh Đ không thay đổi. Suốt quãng thời gian chung sống của vợ chồng anh Đ không biết chăm lo đến hạnh phúc gia đình, không yêu thương chia sẻ với những khó khăn trong cuộc sống với chị. Mâu thuẫn đã được hai bên gia đình cũng như chính quyền địa phương hòa giải nhưng không có kết quả. Hiện nay vợ chồng đang sống ly thân, tình cảm vợ chồng thực sự không còn nên chị đề nghị Tòa án giải quyết cho chị ly hôn anh La Văn Đ.

Về con chung: Chị và anh La Văn Đ có hai con chung tên là La Minh Đ, sinh ngày 15/9/2011 và La Thị Bảo Tr, sinh ngày 20/12/2013. Sau khi ly hôn chị có nguyện vọng được nuôi cả hai con và không yêu cầu anh La Văn Đ cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Chị La Thị D không cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Hiện nay chị và anh La Văn Đ không nợ một tổ chức và cá nhân nào.

Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm anh La Văn Đ đều vắng mặt mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ nhiều lần nhưng anh Đ không có ý kiến gì.

Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho nguyên đơn:

- Về tình cảm: Đề nghị Tòa án xử cho chị La Thị D và anh La Văn Đ được ly hôn;

- Về con chung: Đề nghị Tòa án giao cháu La Minh Đ, sinh ngày 15/9/2011 và cháu La Thị Bảo Tr, sinh ngày 20/12/2013 cho chị La Thị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Đ và cháu Tr tròn 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh La Văn Đ;

- Về tài sản: Không yêu cầu Tòa án giải quyết;

- Về nợ: Hiện nay chị D và anh Đ không nợ tổ chức và cá nhân nào;

- Về án Phí: Áp dụng điểm đ khoản 1 điều 12 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Đề nghị miễn án phí cho chị D.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký là đúng quy định của pháp luật.

Ý kiến quan điểm của Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Con Cuông về việc giải quyết vụ án: khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, giao con chung cho chị La Thị D trực tiếp nuôi dưỡng, tạm hoãn phần cấp dưỡng nuôi con cho anh La Văn Đ, miễn toàn bộ án phí ly hôn cho chị D.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

Về tố tụng:

Đây là vụ án tranh chấp hôn nhân gia đình, bị đơn hiện cư trú tại huyện Con Cuông nên Tòa án nhân dân huyện Con Cuông thụ lý giải quyết là đúng thẩm quyền quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35 và Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự. Tại phiên tòa lần thứ nhất ngày 07/5/2020 bị đơn đã được tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử nhưng vắng mặt nên Hội đồng xét xử đã ra Quyết định hoãn phiên tòa. Tại phiên tòa hôm nay, bị đơn đã được niêm yết Quyết định hoãn phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt nên Hội đồng xét xử quyết định đưa vụ án ra xét xử vắng mặt anh Đ là đúng với quy định tại Điều 227 và Điều 228 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội D:

Về quan hệ hôn nhân: Cuộc hôn nhân giữa chị La Thị D và anh La Văn Đ có đăng ký kết hôn tại UBND xã CK, huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An trên cơ sở tự nguyên là hôn nhân hợp pháp, quá trình chung sống do chị D và anh Đ không biết yêu thương, tôn trọng lấn nhau, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, vợ chồng sống ly thân đã lâu. Tại phiên tòa anh Đ vắng mặt nhưng qua xác minh tại địa phương cho thấy chị D và anh Đ thường xuyên xảy ra mâu thuẫn. Xét tình cảm vợ chồng thật sự không còn, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên chấp nhận yêu cầu ly hôn của chị La Thị D như lời người bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn là có căn cứ.

Về con chung: Chị La Thị D và anh La Văn Đ có hai người con chung tên là La Minh Đ, sinh ngày 15/9/2011 và La Thị Bảo Tr, sinh ngày 20/12/2013. Nay ly hôn chị D có nguyện vọng được nuôi cả hai con cho đến khi các con trưởng thành. Tại biên bản ghi lời khai ngày 27/3/2020 cháu La Minh Đ có nguyện vọng được ở vớ mẹ. Để đảm bảo cuộc sống tốt nhất cho cháu Đ và cháu Tr, Hội đồng xét xử thấy rằng cần giao cho chị La Thị D trực tiếp nuôi dưỡng các cháu cho đến lúc các cháu đủ 18 tuổi, trưởng thành như lời người bảo vệ quyền lợi cho nguyên đơn là hợp lý .

Về cấp dưỡng nuôi con: Chị La Thị D không yêu cầu nên Tòa án không giải quyết.

Về tài sản chung: Chị La Thị D không yêu cầu nên Hội đồng xét xử không xét. Nếu sau này anh La Văn Đ có yêu cầu thì Tòa án sẽ giải quyết bằng một vụ án khác.

Về án phí: Chị La Thị D là người dân tộc, sinh sống tại vùng kinh tế đặc biệt khó khăn nên miễn toàn bộ án phí cho chị D.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng: khoản 1 điều 51, khoản 1 Điều 56; Điều 58; Điều 81; Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và gia đình; Các Điều 207; 227; 228 và Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.

Xử:

Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận cho chị La Thị D ly hôn anh La Văn Đ.

Về con chung: Giao cháu La Minh Đ, sinh ngày 15/9/2011 và cháu La Thị Bảo Tr, sinh ngày 20/12/2013 cho chị La Thị D trực tiếp nuôi dưỡng cho đến khi cháu Đ và cháu Tr tròn 18 tuổi, trưởng thành. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho anh La Văn Đ. Anh La Văn Đ có quyền thăm non, chăm sóc con chung không ai được cản trở, vì lợi ích mọi mặt của con, khi cần thiết một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu thay đổi cấp dưỡng nuôi con hoặc người trực tiếp nuôi con.

Về án phí: Áp dụng điều 147 BLTTDS; Điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án. Miễn toàn bộ án phí ly hôn cho chị La Thị D. Hoàn trả cho chị La Thị D 300.000 đồng chị D đã nộp tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Con Cuông, tỉnh Nghệ An theo biên lai thu tiền số 0001519 ngày 13/02/2020.

Nguyên đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn có quyền kháng cáo lên Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Cỡ chữ