vanban.org

Bản án 40/2020/HSST — Hình sự

TAND TP. Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 29/09/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52/Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

[2] Tuyên bố bị cáo Phạm Văn K phạm tội "Trộm cắp tài sản" [3] Xử phạt bị cáo Phạm Văn K 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Phạm Văn K, thụ lý số 39/2020/HSST ngày 01 tháng 9 năm 2020 - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS…"
  • Tòa quyết gì? [1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52/Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.
  • Căn cứ chính? Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 331 Bộ luật Tố tụng hình sự
TỈNH LAI CHÂU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2020/HSST
Ngày 29 - 9 - 2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ LAI CHÂU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có: Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Vũ Đức Long Các hội thẩm nhân dân: Ông: Giàng A Chỉnh

Bà: Cao Thị Tâm

- Thư ký ghi biên bản phiên toà: Bà Khuất Thị Lan Thư ký TAND thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu: Bà: Lê Ngọc Trang

Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 9 năm 2020 mở phiên tòa công khai sơ thẩm tại Trụ sở Toà án nhân dân thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu để xét xử vụ án hình sự thụ lý số 39/2020/HSST ngày 01 tháng 9 năm 2020 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2020/HSST-QĐ ngày 16/9/2020 đối với bị cáo:

Họ và tên: Phạm Văn K; Sinh năm: 1976 tại tỉnh Lào Cai; Tên gọi khác: Không; Nơi ĐKHKTT và chỗ ở trước khi bị bắt: tổ 4, phường Đoàn Kết, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Học vấn: 6/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Phạm Xuân T (đã chết) và bà Phạm Thị T1 (sinh năm 1945); Gia đình bị cáo có 08 anh chị em, bị cáo là con thứ 07 trong gia đình; Có vợ là Phùng Thị T2 (sinh năm 1980) và có 02 con, lớn sinh năm 2007, nhỏ sinh năm 2011; Tiền án: 01 tiền án (Bản án số 39/2017/HSST ngày 15/6/2017 của Toà án nhân dân Thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu xử phạt 24 tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma tuý”, ngày 01/10/2018 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, hiện chưa được xoá án tích); Tiền sự: 01 tiền sự (Ngày 19/11/2019 bị Công an thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu xử phạt 2.500.000VNĐ theo Quyết định số 85 về hành vi “Xâm hại sức khoẻ người khác” (chưa được xoá tiền sự); Nhân thân: Xấu; Được áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 01/7/2020; Hiện bị cáo tại ngoại (có mặt)

- Bị hại:

Họ và tên: Giàng A Minh T3; Sinh năm: 1996;

Trú tại: tổ 26, phường Tân Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu

(Vắng mặt có lý do)

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

Họ và tên: Nguyễn Văn N; Sinh năm: 1983;

Trú tại: số nhà 024, đường Trần Hưng Đạo, tổ 5, phường Quyết Tiến, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu.

(Vắng mặt có lý do)

- Người làm chứng:

1. Họ và tên: Vũ Xuân Đ; Sinh năm: 1967;

Trú tại: tổ 26, phường Tân Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu

(Vắng mặt có lý do)

2. Họ và tên: Trần Văn T4; Sinh năm: 1983;

Trú tại: tổ 2, phường Đoàn Kết, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu

(Vắng mặt có lý do)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 28/6/2020 Công an Thành phố Lai Châu nhận được đơn trình báo của Giàng A Minh T3 (sinh năm 1996, trú tại tổ 26, phường Tân Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu) về việc: Chiều 28/6/2020 tại nhà ông Vũ Xuân Đ (tổ 26, phường Tân Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu) anh T3 có để 01 chiếc điện thoại Oppo A3S màu đỏ (mua tháng 01/2020 với giá 3.000.000VNĐ) trên giường ngủ của ông Đ, sau đó do đi có công việc nên không mang theo điện thoại, đến tối về thì không thấy đâu. Anh T3 nghi cho Phạm Văn K (trú tại tổ 4, phường Đoàn Kết, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu) là người đã lấy trộm chiếc điện thoại.

Bằng các biện pháp nghiệp vụ Cơ quan điều tra đã tiến hành triệu tập Phạm Văn K sinh năm 1976; trú tại tổ 4, phường Đoàn Kết, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu để làm rõ.

Tại Cơ quan điều tra K khai nhận: khoảng 15 giờ ngày 28/6/2020 Kiên đến nhà anh Vũ Xuân Đ (tổ 26, phường Tân Phong) chơi, khi đó có vợ chồng anh T3 và anh Đ đang ngồi uống nước ở bàn trước cửa nhà, K vào uống nước cùng. Khoảng 10 phút sau vợ chồng T3 đi có việc còn K và anh Đ ngồi uống nước, được một lúc anh Đ cùng đi làm việc ở ngoài cổng chỉ còn mình K. Kiên hút thuốc lào nhưng không có bật lửa, K cầm điếu vào bàn trong nhà lấy bật lửa và ngồi lên giường ngủ của anh Đ (giường kê cạnh cửa ra vào) để hút thuốc thì ngồi phải chiếc điện thoại. K nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại bán lấy tiền tiêu sài cá nhân, quan sát không có ai K lén lút cho chiếc điện thoại vào túi quần rồi ra về. Ra khỏi cổng K bỏ điện thoại ra xem đó là chiếc điện thoại Oppo màu đỏ, không cài mật khẩu, màn hình chờ là ảnh bài biển có dán kính cường lực đã bị nứt vỡ, rồi tắt nguồn rồi đến quán điện thoại “Nhất mobile” (tổ 5, phường Quyết Tiến) của anh N để bán điện thoại. Đến quán điện thoại K gặp anh N, qua trao đổi anh N đồng ý mua với giá 1.400.000VNĐ (02 tờ 500.000VNĐ và 02 tờ 200.000VNĐ), sau khi nhận tiền K mang 1.000.000VNĐ trả cho anh T4 lái Taxi (trú tại tổ 2, phường Đoàn Kết, thành phố Lai Châu), dùng 200.000VNĐ mua thẻ điện thoại và 200.000VNĐ tiêu sài cá nhân hết.

Tại cơ quan điều tra Giàng A Minh T3 trình bày khoảng 15 giờ ngày 28/6/2020 anh đang ở nhà ông Đ (bố nuôi của T3 từ nhỏ, không làm thủ tục theo quy định của pháp luật) tổ 26, phường Tân Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu, anh có để 01 chiếc điện thoại Oppo A3S màu đỏ (mua tháng 01/2020 với giá 3.000.000VNĐ) trên giường ngủ của ông Đ, sau đó do đi có công việc nên không mang theo điện thoại, đến tối về thì không thấy đâu. Anh T3 có hỏi ông Đ nhưng ông Đ không biết, anh có nghi ngờ cho Phạm Văn K là người đã lấy trộm chiếc điện thoại vì K có đến nhà ông Đ chơi vào buổi chiều hôm đó.

Cơ quan điều tra triệu tập Vũ Xuân Đ, tại cơ quan điều tra ông Đ khai nhận đúng như lời khai của anh T3, ông nhận T3 làm con trong gia đình, chiều 28/6/2020 sau khi T3 đi thì chỉ có K đến chơi và vào trong nhà uống nước, khi T3 về hỏi điện thoại thì ông cũng nghi ngờ K là người đã lấy chiếc điện thoại của T3.

Cơ quan điều tra tiến hành xác minh tại các cửa hàng mua bán và sửa chữa điện thoại trên địa bàn và triệu tập anh Nguyễn Văn N (sinh năm 1983, trú tại số nhà 024, đường Trần Hưng Đạo, tổ 5, phường Quyết Tiến, thành phố Lai Châu) là chủ cửa hàng điện thoại “Nhất mobile” cùng địa chỉ. Anh N trình bày khoảng 17 giờ ngày 28/6/2020 khi đang ở cửa hàng thì có người đàn ông khoảng 40 đến 50 tuổi (người này anh đã gặp trước đây khi đi cùng vợ đến sửa điện thoại, sau này anh mới biết tên là K) đến bán chiếc điện thoại Oppo A3S màu đỏ, mới khoảng 80 – 90%, mặt dán kính cường lực bên ngoài và mặt dán đã bị vỡ, bên trong không có dữ liệu, không có mật khẩu, K bảo do không có nhu cầu sử dụng nên bán. Anh nhất trí mua với giá 1.400.000VNĐ và trả cho K 02 tờ 500.000VNĐ và 02 tờ 200.000VNĐ, sau đó K đi đâu anh không biết, anh cũng không biết đó là điện thoại trộm cắp, khi được triệu tập anh đã giao nộp chiếc điện thoại cho cơ quan điều tra. Anh N đề nghị cơ quan điều tra buộc K bồi thường số tiền 1.400.000VNĐ. Đến ngày 15/8/2020 K đã đến để trả lại anh số tiền 1.400.000VNĐ, anh đã nhận đủ nên không có yêu cầu bồi thường gì thêm.

Căn cứ lời khai của K Cơ quan điều tra triệu tập anh Trần Văn T4 (người mà K trả 1.000.000VNĐ sau khi bán điện thoại). Tại cơ quan điều tra anh Trần Văn T4 thừa nhận lời khai của K vào chiều 28/6/2020 K có đến nhà anh Trần Văn T4 tại tổ 2, phường Đoàn Kết trả T4 1.000.000VNĐ mà K nợ tiền xe trước đó, anh Trần Văn T4 không biết và K cũng không cho anh Trần Văn T4 biết đó là tiền bán điện thoại trộm cắp mà có, anh Trần Văn T4 đã chi tiêu hết.

Ngày 29/6/2020 Cơ quan điều tra thực hiện kiểm tra điện thoại mà anh N giao nộp, quá trình kiểm tra phù hợp với lời khai của anh T3 và bị cáo K, xác định được đây chính là chiếc điện thoại của anh T3 đã bị K lấy trộm bán cho anh N vào ngày 28/6/2020.

Ngày 01/7/2020 cơ quan điều tra cho anh N nhận dạng qua ảnh, kết quả qua hai lần thực hiện anh N đều chỉ đúng người đã bán chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S màu đỏ cho anh vào chiều 28/6/2020 là Phạm Văn K.

Kết luận định giá số 11/KLĐG ngày 01/7/2020 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố Lai Châu đã kết luận giá trị 01 điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S màu đỏ có dán kính cường lực, bề mặt kính cường lực có nhiều vết nứt vỡ giá trị là: 2.392.000 đồng (hai triệu ba trăm chín hai nghìn đồng chẵn).

Ngày 23/7/2020 Cơ quan điều tra đã tiến hành thực nghiệm điều tra, kết quả thực nghiệm điều tra hoàn toàn phù hợp với lời khai của bị cáo, người bị hại.

Sau khi thu giữ, xác định chủ sở hữu, căn cứ vào đơn xin lại tài sản của anh T3 (BL48) cơ quan điều tra đã trả lại vật chứng thu giữ là chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S màu đỏ cho chủ sở hữu hợp pháp.

Ngày 10/8/2020 Phạm Văn K đến nhà xin lỗi và bồi thường khắc phục thiệt hại cho anh T3 số tiền 600.000VVNĐ; ngày 15/8/2020 anh T có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo K (BL131).

Tại bản cáo trạng số 38/CT-VKSTP ngày 31/8/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu đã truy tố bị cáo Phạm Văn K về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1, khoản 5 Điều 173; điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52/BLHS; Tuyên bố bị cáo phạm tội “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành án; Miễn hình phạt bổ sung bằng tiền; Bị cáo phải chịu án phí HSST theo quy định.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định nêu trên.

Bị hại anh Giàng A Minh T3 xin vắng mặt tại phiên toà, trong đơn xin vắng mặt thể hiện anh đã nhận lại tài sản của mình, bị cáo đã bồi thường thiệt hại nên không yêu cầu bị cáo bồi thường gì thêm; Đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn N vắng mặt tại phiên toà, trong đơn xin vắng mặt thể hiện anh đã được trả lại số tiền 1.400.000VNĐ và không yêu cầu bị cáo bồi thường gì.

Tại lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị HĐXX xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, bị cáo đã biết lỗi của mình, do nhất thời lòng tham nổi lên, sau khi phạm tội bị cáo rất ân hận, khi bị phát hiện đã thành khẩn khai báo và bồi thường cho bị hại và trả tiền cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về tố tụng: Danh chỉ bản lập đối với Phạm Văn K số 69 ngày 01/7/2020 về hành vi “Trộm cắp tài sản” và danh chỉ bản số 12 ngày 05/4/2017 về hành vi “Mua bán trái phép chất ma tuý” không khớp nhau về thông tin nên Cơ quan điều tra đã tiến hành đối chiếu điểm chỉ đường vân của hai danh chỉ bản. Kết quả cùng là đường vân của một người vì vậy danh chỉ bản số 69 đã được sửa lại thông tin cho phù hợp là hoàn toàn có căn cứ. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Văn N xuất trình Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (BL150) và khi mua điện thoại K cũng không cho biết đó là chiếc điện thoại trộm cắp (không khoá mật khẩu, không có dữ liệu) vì vậy hành vi của anh N không vi phạm pháp luật. Anh Trần Văn T4 là người bị cáo dùng tiền bán điện thoại do trộm cắp để trả nợ, anh T4 không biết số tiền đó là do bị cáo trộm cắp mà có vì vậy hành vi của anh T4 không vi phạm pháp luật. Việc bị cáo bồi thường 600.000VNĐ cho người bị hại là hoàn toàn tự nguyện, không bị ai ép buộc với mục đích khắc phục hậu quả trong những ngày bị hại không có điện thoại cần được chấp nhận.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Lai Châu; Viện kiểm sát nhân dân thành phố Lai Châu; của Điều tra viên; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và xét xử tại phiên tòa, bị cáo và người bị hại đều không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội: Khoảng 15 giờ ngày 28/6/2020 Phạm Văn K lợi dụng không ai để ý, đã lén lút lấy trộm chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S màu đỏ trị giá 2.392.000 đồng (hai triệu ba trăm chín hai nghìn đồng chẵn) của anh Giàng A Minh T3 đang để ở nhà ông Vũ Xuân Đ (tổ 26, phường Đông Phong, thành phố Lai Châu, tỉnh Lai Châu) sau đó mang bán lấy tiền chi tiêu cá nhân.

Hành vi nêu trên của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác, gây mất trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo nhận thức được hành vi trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vì lòng tham và lười lao động nên vẫn cố ý thực hiện. Bị cáo là người có đủ năng lực pháp luật để chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội mà mình đã gây ra. Do đó, hành vi nêu trên của bị cáo Phạm Văn K đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự có quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo Phạm Văn K, được đi học hết lớp 6/12 rồi ở nhà lao động và xây dựng gia đình, bị cáo có bố là Phạm Xuân T là liệt sỹ hy sinh vì sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc (BL96); có nhân thân xấu thể hiện việc bị cáo có 01 tiền án: Bản án số 39 ngày 15/6/2017 của Toà án nhân dân Thành phố Lai Châu đã xử phạt bị cáo 24 tháng tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”, ngày 10/01/2018 chấp hành xong hình phạt trở về địa phương, chưa được xoá án tích và 01 tiền sự: ngày 19/11/2019 bị Công an Thành phố Lai Châu xử phạt hành chính 2.500.000VNĐ về hành vi “Xâm hại sức khoẻ người khác”, chưa được xoá tiền sự; Sau khi thực hiện hành vi đã tự giác khai nhận hành vi của mình; Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa bị cáo “thành khẩn khai báo”, “tỏ ra ăn năn hối cải” về hành vi của mình; Bị cáo đã tự giác đến xin lỗi và bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại đã nhận được tài sản và có đơn xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo; Bị cáo cũng đã bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan nên bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51/BLHS. Bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng quy định tại điểm h Điều 52/BLHS.

Trên cơ sở tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự để chịu trách nhiệm về hành vi của mình, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo thành công dân có ích cho xã hội và gia đình.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”. Tuy nhiên, theo các tài liệu, chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa đều cho thấy bị cáo là lao động tự do, sống chung cùng gia đình, không có tài sản riêng. Do đó, HĐXX quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về vật chứng của vụ án:

01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Oppo A3S màu đỏ đã được trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp nên không xem xét.

Đối với đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, không oan sai và đúng quy định của pháp luật cần được chấp nhận.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

[1] Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s, x khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52/Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

[2] Tuyên bố bị cáo Phạm Văn K phạm tội "Trộm cắp tài sản"

[3] Xử phạt bị cáo Phạm Văn K 08 (tám) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày vào trại chấp hành án.

[4] Bị cáo phải chịu 200.000VNĐ án phí HSST;

[5] Bị cáo có mặt tại phiên toà được quyền kháng cáo lên Tòa án cấp trên trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được Bản án hoặc Bản án được niêm yết công khai.

Cỡ chữ