vanban.org

Bản án 40/2020/HS-ST — Hình sự

TAND TX. Dĩ An, tỉnh Bình Dương Tuyên án 19/02/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Ngọ Văn C phạm tội “Cướp tài sản”.

Xử phạt bị cáo Ngọ Văn C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/9/2019. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Ngọ Văn C - phạm tội cướp tài sản (điều 168 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Ngọ Văn C phạm tội “Cướp tài sản”.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 168 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THỊ XÃ DĨ AN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH BÌNH DƯƠNG
Bản án số: 40/2020/HS-ST
Ngày 19-02-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ DĨ AN TỈNH BÌNH DƯƠNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Võ Ngọc Công.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Văn Hoàn;

2. Bà Nguyễn Thụy Vân Hà.

Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Trung Hiếu, Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương tham gia phiên toà: Ông Trần Trọng An, Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng 02 năm 2020 tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số: 19/2020/TLST-HS ngày 10 tháng 01 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 32/2020/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 02 năm 2020 đối với bị cáo:

Ngọ Văn C, sinh năm 1985 tại tỉnh Bắc Giang; thường trú: Ấp H, xã Ph L, huyện V C, tỉnh Đồng Nai; chỗ ở: Khu phố B Đ 4, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; con ông Ngọ Văn H, sinh năm 1962 và bà Trần Thị N, sinh năm 1962; bị cáo có 01 em ruột, sinh năm 1988; bị cáo có 01 con ruột, sinh năm 2009; tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Ngày 26/4/2011, bị Tòa án nhân dân thị xã D A, tỉnh Bình Dương xử phạt 15 tháng tù về tội Cướp tài sản, theo Bản án hình sự sơ thẩm số: 102/2011/HSST, chấp hành xong hình phạt ngày 19/01/2012; bị bắt tạm giam từ ngày 29/9/2019 cho đến nay; có mặt tại phiên tòa.

- Bị hại: Bà Đặng Thị Tuyết M, sinh năm 2001; thường trú: Thôn Í M, xã Í H, huyện L H, tỉnh Hà Tĩnh; chỗ ở: Số HM, đường số MT, khu phố Th Nh 1, phường D A, thị xã D A, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Bản thân Ngọ Văn C là đối tượng không có nghề nghiệp, sử dụng trái phép chất ma túy. Khoảng 16 giờ ngày 29/9/2019, tại nhà trọ thuộc tổ HL, khu phố B Đ 4, phường A B, thị xã D A, tỉnh Bình Dương, C mang theo 01 túi xách quai chéo màu đen bên trong có 01 cây vợt điện, trên đường đi C nhặt được

con dao dài khoảng 20cm có cán nhựa màu đen, lưỡi dao sắc nhọn, C bỏ con dao vào túi xách mục đích làm hung khí chiếm đoạt tài sản. C đi bộ đến vòng xoay Ch khu công nghiệp S Th 2 thì nhìn thấy máy ATM của Ngân hàng TMCP Đ Á, tại đây có nhiều người đang rút tiền nên C không dám thực hiện hành vi chiếm đoạt tiền. Lúc này, C tiếp tục đi bộ vào đường số M, khu công nghiệp S Th 2 thì phát hiện máy ATM của ngân hàng TMCP Vietcombank, chỉ có một mình bà Đặng Thị Tuyết M đang đứng rút tiền nên C đi đến đứng sát bên trái người bà M, thấy máy ATM trả tiền nên C lấy dao ra kề vào bụng bà M rồi tay phải lấy số tiền 2.500.000 đồng (gồm 05 tờ mệnh giá 500.000 đồng), bà M hoãn sợ đứng im không phản ứng gì. Chiếm đoạt được tiền C bỏ đi về hướng đường Đ l Đ L, còn bà M đến đồn Công an khu công nghiệp S Th trình báo. Sau đó, lực lượng Công an đồn khu công nghiệp S Th và bà M phát hiện Ngọ Văn C đang đi bộ trên đường số T, khu công nghiệp S Th 2 nên đưa về Công an đồn làm việc. Qua trích xuất camera tại thời điểm bà M rút tiền vào lúc 17 giờ 24 phút 40 giây đến 17 giờ 25 phút 50 giây ghi nhận hình ảnh Ngọ Văn C đang thực hiện hành vi dùng dao đe dọa, chiếm đoạt tiền của bà M rồi tẩu thoát.

* Vật chứng thu giữ: 01 cây vợt điện, 01 con dao dài khoảng 20cm có cán nhựa màu đen, lưỡi dao sắc nhọn, 01 bộ quần áo và 01 đôi giày do C mặc khi phạm tội, 01 túi da, số tiền 3.500.000 đồng (trong đó 2.500.000 đồng là tiền do phạm tội mà có).

Đối với số tiền 1.000.000 đồng là tư vật của bị cáo Ngọ Văn C, không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D A, tỉnh Bình Dương đã trả lại số tiền này cho C.

Tại bản cáo trạng số: 61/CT-VKS ngày 10/01/2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương truy tố bị cáo Ngọ Văn C phạm tội “Cướp tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017. Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương, trong phần tranh luận giữ nguyên quyết định truy tố theo toàn bộ nội dung cáo trạng đã nêu, đồng thời đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 để xử phạt bị cáo Ngọ Văn C từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù.

* Về xử lý vật chứng: Đối với 01 cây vợt điện; 01 con dao dài khoảng 20cm có cán nhựa màu đen, lưỡi dao sắc nhọn; 01 bộ quần áo và 01 đôi giày do C mặc khi phạm tội; 01 túi màu đen là công cụ phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên đề nghị tịch thu tiêu hủy.

* Về trách nhiệm dân sự: Đối với tài sản bị chiếm đoạt 2.500.000 đồng, hiện đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại M không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự không đặt ra xem xét.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, bị cáo không có ý kiến tranh luận với đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, khung hình phạt, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự, đồng thời bị cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã Dĩ An, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Căn cứ vào lời khai của bị cáo; bị hại; biên bản bắt giữ người trong trường hợp khẩn cấp và các chứng cứ tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án, xác định: Khoảng 17 giờ 15 phút ngày 29//9/2019 tại cây ATM của ngân hàng TMCP Vietcombank địa chỉ đường số M, khu công nghiệp S Th 2, thị xã D A, tỉnh Bình Dương. Ngọ Văn C đã thực hiện hành vi dùng dao dài khoảng 20cm có cán nhựa màu đen, lưỡi dao sắc nhọn kề vào bụng bị hại Đặng Thị Tuyết M khi đang rút tiền để chiếm đoạt số tiền 2.500.000 đồng.

Như vậy, hành vi trên đây của bị cáo Ngọ Văn C dùng vũ lực ngay tức khắc bằng cách lấy con dao có lưỡi sắc nhọn kề vào bụng của bị hại để chiếm đoạt số tiền 2.500.000 đồng rồi nhanh chóng tẩu thoát đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp tài sản”. Do đó, Cáo trạng số: 61/CT–VKS ngày 10 tháng 01 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân thị xã Dĩ An và luận tội của Kiểm sát viên truy tố bị cáo Ngọ Văn C về tội “Cướp tài sản” với tình tiết định khung “Sử dụng vũ khí, phương tiện hoặc thủ đoạn nguy hiểm khác” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

Tính chất, mức độ của hành vi: Tội phạm do bị cáo thực hiện là rất nghiêm trọng, đe dọa xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản, sức khỏe, tính mạng của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an tại địa phương. Vì vậy, cần xử phạt bị cáo với mức án tương xứng với tính chất mức độ tội phạm đã thực hiện, có xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, đủ để giáo dục, cải tạo và có tác dụng đấu tranh phòng ngừa chung.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Tại cơ quan điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thành khẩn khai báo và có thái độ ăn năn hối cải. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân xấu, thể hiện bị cáo đã từng bị xét xử về tội Cướp tài sản, đã được xóa án tích đồng thời bị cáo là người không có nghề nghiệp, nghiện ma túy nên cũng cần xem xét khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

Về hình phạt:

- Hình phạt chính: Xét bị cáo phạm tội rất nghiêm trọng, hành vi dùng vũ lực ngay tức khắc bằng cách lấy con dao có lưỡi sắc nhọn kề vào bụng của bị hại để chiếm đoạt là rất nguy hiểm, đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản và tính mạng, sức khỏe của bị hại được pháp luật bảo vệ, gây tác hại cho xã hội, gây mất trật tự trị an tại địa phương đồng thời bị cáo là người có nhân thân xấu, không có nghề nghiệp ổn định, nghiện ma túy nên Hội đồng xét xử quyết định áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ để giáo dục, cải tạo bị cáo thành công dân có ích cho gia đình, xã hội và có tác dụng đấu tranh, phòng ngừa chung.

- Về hình phạt sung: Theo quy định tại khoản 6 Điều 168 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 “Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng phạt quản chế, cấm cư trú từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản”. Tuy nhiên, áp dụng hình phạt tù cũng đủ sức răn đe, giáo dục bị cáo nên Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Về xử lý vật chứng: Xét 01 (một) cây vợt điện; 01 (một) con dao dài khoảng 20cm có cán nhựa màu đen, lưỡi dao sắc nhọn; 01 (một) bộ quần áo và 01 (một) đôi giày do C mặc khi phạm tội; 01 (một) túi màu đen là công cụ, phương tiện sử dụng vào việc phạm tội nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về trách nhiệm dân sự: Đối với tài sản bị chiếm đoạt 2.500.000 đồng, hiện đã thu hồi trả lại cho bị hại, bị hại Mai không yêu cầu gì khác nên trách nhiệm dân sự Hội đồng xét xử không đặt ra xem xét.

Đối với số tiền 1.000.000 đồng là tư vật của bị cáo Ngọ Văn C, không liên quan đến việc phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã D A, tỉnh Bình Dương đã trả lại số tiền này cho Cường là đúng quy định của pháp luật.

Xét đề nghị Viện kiểm sát về tội danh, điều luật áp dụng, khung hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo, xử lý vật chứng và trách nhiệm dân sự là phù hợp nên có cơ sở chấp nhận.

Án phí sơ thẩm: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017 và điểm c khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1. Tuyên bố bị cáo Ngọ Văn C phạm tội “Cướp tài sản”.

- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Xử phạt bị cáo Ngọ Văn C 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 29/9/2019.

2. Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

- Tịch thu tiêu hủy 01 (một) cây vợt điện; 01 (một) con dao dài khoảng 20cm có cán nhựa màu đen, lưỡi dao sắc nhọn; 01 (một) bộ quần áo và 01 (một) đôi giày; 01 (một) túi màu đen.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 10/01/2020 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thị xã Dĩ An với Chi cục thi hành án dân sự thị xã Dĩ An).

3. Về án phí sơ thẩm: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc Hội khoá 14 về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Bị cáo Ngọ Văn C phải nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo có mặt được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ./.

Cỡ chữ