vanban.org

Bản án 40/2020/HS-ST — Hình sự

TAND Q. Lê Chân, TP. Hải Phòng Tuyên án 28/04/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Phạt bổ sung bị cáo số tiền 07 (bảy) triệu đồng để sung quỹ Nhà nước.

Về xử lý tang vật: Căn cứ điểma, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,ckhoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Tịch thu tiêu hủy 01 hộp carton niêm phong lượng ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao bì;01 hộp giấy niêm phong 01 khẩu súng, 03 viên đạn, 03 vỏ đạn; 02 đĩa kim loại, 05 … Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng trữ ma túy - phạm tội tàng trữ trái phép chất ma túy (điều 249 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Phạt bổ sung bị cáo số tiền 07 (bảy) triệu đồng để sung quỹ Nhà nước.
  • Căn cứ chính? Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 249 Bộ luật Hình sự; Điều 47 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
QUẬN LÊ CHÂN
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số:40/2020/HS-ST
Ngày 28-4-2020

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN LÊ CHÂN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thu Hương.

Các Hội thẩm nhân dân:Ông Đinh Văn Bình

Bà Hà Thị Nga

- Thư ký phiên toà:Bà Nguyễn Thị N Loan-Thư ký Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng tham gia phiên toà: ÔngNguyễn Vương Hoàng- Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 4 năm 2020 tại trụ sở Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 05/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 01 năm 2020theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số110/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 4 năm 2020đối với bị cáo:

Lê Hoàng A, sinh ngày 02 tháng 11 năm 1982 tại Hải Phòng;đăng ký nhân khẩu thường trú: Số 16 Lương Khánh Thiện, phường Lương Khánh Thiện, quận Ngô Quyền, Hải Phòng; tạm trú: Tổ 10 phường KD, quận Lê Chân, Hải Phòng; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Viết M và bà Đặng Minh Thu (đã chết); tiền án: Án số 63/2012/HSST ngày 27/4/2012, Toà án nhân dân quận Lê Chân, thành phố Hải Phòng xử phạt 42 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; Án số 71/2012/HSST ngày 09/8/2012, Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xử phạt 42 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, tổng hợp với 32 tháng 03 ngày tù chưa chấp hành của bản án số 63/2012/HSST ngày 27/4/2012 của Toà án nhân dân quận Lê Chân, buộc Hoàng A phải chấp hành hình phạt chung là 74 tháng 03 ngày tù(chưa được xóa án tích); tiền sự: Không; bị tạm giữ từ ngày 11/6/2019,tạm giam18/6/2019; có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Hồi 20 giờ ngày 11/6/2019,Phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố Hải Phòng kết hợp với Phòng phòng chống ma túy - Bộ tư lệnh vùng Cảnh sát biển 1 làm nhiệm vụ tại khu vực đường TL, phường KD, quận Lê Chân, Hải Phòng. Khi đến khu vực trước cửa nhà trọ Hoàng A thì phát hiện Lê Hoàng A và Phạm Thị N, sinh năm 1998, nơi cư trú: Khu dân cư LS, thị trấn Vĩnh Bảo, Hải Phòng có biểu hiện nghi vấn phạm tội về ma túy. Tiến hành kiểm tra thấy Lê Hoàng A đang ngồi trên xe ô tôbiển kiểm soát: 15A - 414.88, còn Phạm Thị Nđi từ xe ô tô xuốngcầm theo 01 túi xách màu vàng chạy vào phòng tầng 4 bên phải cầu thang của nhà trọ. Lực lượng công an yêu cầu N mở cửa phòng, tại đây đã thu giữ:

* Tại nền nhà cạnh đệm:

- 01 đĩa kim loại đường kính 23cm, cao 03cm có đựng các viên nén màu xanh rêu;

- 01 hộp nhựa màu trắng không có nắp chứa chất bột màu trắng;

-01 hộp nhựa màu trắng hình trụ tròn kích thước 07x09cm bên trong có: 01 túi nilon chứa 06 viên nén màu xanh rêu, 01 túi nilon chứa 01 viên nén màu xanh rêu;

-01 đĩa kim loại đường kính 27cm, cao 04cm có: 01 túi nilon chứa thảo mộc khô vụn; 01 túi nilon chứa chất bột màu trắng; 01 túi nilon chứa chất bột màu trắng ngà; 02 khối kim loại hình trụ tròn, 04 thanh kim loại hình trụ, 01 thìa kim loại và 01 thìa nhựa màu trắng;

*Tại nóc tủ cạnh đệm:01 túi nilon màu xanh bên trong chứa thảo mộc.

* Tại mặt đệm ngủ:01 túi nilon bên trong có các viên nén màu xanh rêu được gói trong giấy vệ sinh màu trắng và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung;

* Tại túi quần của Hoàng A số tiền 5.000.000đồng và trên nền nhà sát đệm ngủ của Hoàng A số tiền 29.000.000đồng.

Ngoài ra, còn thu giữ 01 chiếc xe ô tô nhãn hiệu Mazda biển kiểm soát 15A-414.88 và thu giữ tại túi xách của Phạm Thị N: 01 chứng minh nhân dân mang tên Phạm Thị N, 01 thẻ ATM và 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone.

Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Lê Hoàng A tại nhà trọ Hoàng A thuộc Tổ 10 phường KD, Lê Chân, Hải Phòng. Quá trình khám xét tại phòng ngủ tầng 4 bên phải cầu thang, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng đã thu giữ:

* Tại góc nhà: 01 hộp nhựa hình trụ màu trắng bên trong có:

- 01 túi nilon bên trong chứa tinh thể màu trắng;

- 01 túi nilon bên trong chứa các viên nén màu trắng xanh;

- 01 túi nilon bên trong có 01 túi nilon chứa tinh thể màu trắng;

- 01 khối kim loại hình trụ và 06 thanh kim loại hình trụ.

* Trên hộp giấy cạnh kệ gần đầu đệm ngủ: 01 túi nilon bên trong chứa các viên nén màu xanh rêu có hình dạng khác nhau;

* Tại nền nhà dưới cửa sổ:

- 01 túi nilon bên trong chứa chất bột màu đen;

- 01 túi nilon bên trong có 01 túi nilon chứa tinh thể màu vàng;

- 01 túi nilon bên trong chứa các viên nén in lô gô "WY";

- 01 hộp nhựa màu trắng có nắp đậy màu đỏ bên trong có 02 khối kim loại hình trụ, 02 thanh kim loại;

- 02 chiếc cân điện tử.

- 01 khối kim loại hình hộp chữ nhật và 01 búa bằng gỗ.

* Tại tủ quần áo:01 vật dạng súng bằng kim loại màu trắng đen, bên trong có 06 viên đạn.

* Tại cạnh loa: 02 chai thủy tinh có nắp đậy gắn ống hút và nỏ thủy tinh.

Tại bản kết luận giám định số 297/KLGĐ(Đ6) ngày 17/6/2019 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an thành phố Hải Phòng và số 3914/C09-TT2 ngày 18/7/2019 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:

- Các viên nén màu xanh rêu thu giữ trong chiếc đĩa kim loại tại nền nhà cạnh đệm của Lê Hoàng A là ma túy, có khối lượng 9,20gam, loại MDMA và Delta 9 - Tetrahydrocannabinol. Khối lượng MDMA trong 3,060gam được trích ra giám địnhlà 0,046gam. Như vậy, khối lượng 9,20gam ma túy có khối lượng MDMA là 0,138gam; Delta 9 - Tetrahydrocannabinol là 9,062gam;

- Chất bột màu trắng thu giữ trong hộp nhựa màu trắng không có nắp tại nền nhà cạnh đệm của Lê Hoàng A là ma túy, có khối lượng 7,82 gam, là loại MDMA và Ketamine. Lượng MDMA trong mẫu được trích ra để giám định là quá nhỏ, nằm ngoài giới hạn định lượng nên không xác định được khối lượng MDMA có trong mẫu.

- Các bông thảo mộc khô thu giữ trên nóc tủ cạnh đệm là ma túy, có khối lượng 58,19 gam, là loại cần sa.

- Các viên nén màu xanh rêu thu giữ trong hộp nhựa màu trắng hình trụ tròn tại nền nhà cạnh đệm của Lê Hoàng A là ma túy, có khối lượng 2,76gam, là loại MDMA, Ketamine và Delta 9 - Tetrahydrocannabinol. Khối lượng MDMA và Ketamine trong 0,950gam được trích ra để giám định là 0,003gam MDMA và 0,011 gam Ketamine. Như vậy, khối lượng 2,76gam ma túy có khối lượng MDMA là 0,009gam; Ketamine là 0,032gam; Delta 9 - Tetrahydrocannabinol là 2,719gam;

- Các viên nén màu xanh rêu được gói trong giấy vệ sinh màu trắng thu giữ trên mặt đệm ngủ là ma túy, có khối lượng 32,42gam, là loại MDMA và Ketamine. Khối lượng MDMA trong 4,640gam được trích ra để giám địnhlà 0,176gam. Như vậy, khối lượng 32,42gam ma túy có khối lượng MDMA là 1,23gam; Ketamine là 31,19gam;

- Thảo mộc khô, vụn thu giữ trong đĩa kim loại tại nền nhà cạnh đệm là ma túy, có khối lượng 19,69gam, là loại MDMA và Delta 9 - Tetrahydrocannabinol. Khối lượng MDMA trong 3,980gam được trích ra để giám địnhlà 0,064gam.Như vậy, khối lượng 19,69gam ma túy có khối lượng MDMA là 0,317gam; Delta 9 - Tetrahydrocannabinol19,373gam;

- Chất bột màu trắng thu giữ trong đĩa kim loại tại nền nhà cạnh đệm có khối lượng 9,24 gam là bột Talc. Không tìm thấy thành phần các chất ma túy.

- Chất bột màu trắng ngà thu giữ trong đĩa kim loại tại nền nhà cạnh đệmlà ma túy, có khối lượng 2,57gam, là loại MDMA.

- Tinh thể màu trắng thu giữ trong hộp nhựa hình trụ màu trắng tại góc nhà có khối lượng 37,57gam, không tìm thấy thành phần các chất ma túy.

- Các viên nén màu trắng xanh thu giữ trong hộp nhựa hình trụ màu trắng tại góc nhàlà ma túy, có khối lượng 10,03gam, là loại MDMA và Ketamine. Khối lượng MDMA trong 2,930gam được trích ra để giám địnhlà 0,314gam.Như vậy, khối lượng 10,03gam ma túy có khối lượng MDMA là 1,075gam; Ketamine là 8,955gam;

- Tinh thể màu trắng thu giữ trong hộp nhựa hình trụ màu trắng tại góc nhàlà ma túy, có khối lượng 12,42gam, là loại Methamphetamine và Ketamine. Khối lượng Methamphetamine trong 2,850gam được trích ra để giám địnhlà 0,017gam.Như vậy, khối lượng 12,42gam ma túy có khối lượng Methamphetamine là 0,074gam; Ketamine là 12,346gam;

- Các viên nén màu xanh rêu thu giữ trên hộp giấy cạnh kệ gần đầu đệm ngủ là ma túy, có khối lượng 19,01gam, là loại MDMA và Ketamine. Khối lượng MDMA trong 3,330gam được trích ra để giám địnhlà 0,129gam.Như vậy, khối lượng 19,01gam ma túy có khối lượng MDMA là 0,736gam; Ketamine là 18,274gam;

- Chất bột màu đen thu giữ trong túi nilon tại nền nhà dưới cửa sổ là ma túy, có khối lượng 60,70gam, là loại MDMA và Ketamine. Khối lượng MDMA trong 5,770gam được trích ra để giám địnhlà 0,236gam. Như vậy, khối lượng 60,70gam ma túy có khối lượng MDMA là 2,483gam; Ketamine là 58,217gam;

- Tinh thể màu vàng thu giữ trong túi nilon tại nền nhà dưới cửa sổcó khối lượng 96,07 gam, không tìm thấy thành phần các chất ma túy.

- Các viên nén in logo “WY” thu giữ trong túi nilon tại nền nhà dưới cửa sổlà ma túy, có khối lượng 4,99 gam, là loại Methamphetamine.

Tại bản kết luận giám định số 3870/C09(P3) ngày 24/7/2019 của Viện khoa học hình sự - Bộ Công an kết luận:

- Khẩu súng gửi đến giám định là súng bắn bi bằng lực đẩy của khí nén, thuộc đồ chơi nguy hiểm bị cấm, không phải là vũ khí quân dụng.

- 03 viên đạn và 03 vỏ đạn là đạn và vỏ của đạn đầu bi, sử dụng bắn được bằng khẩu súng nêu trên, thuộc đồ chơi nguy hiểm bị cấm, không phải là vũ khí quân dụng.

Tại Cơ quan điều tra, Lê Hoàng A khai: Vào khoảng 05giờ, cách ngày bị bắt khoảng một tuần,Lê Hoàng Ađi đến ngã ba TL, quận Lê Chân, Hải Phòng thì thấy một chiếc túi nilon màu đen, có mùi của ma túy dạng Cần Sa nênđã đem về chỗ ở của mình, sau đó mở ra xem thì thấy bên trong có nhiều túi nilon chứa các viên nén, tinh thể, chất bột, thảo mộc là ma túy nên đã cất giấu ở nhiều vị trí khác nhau để sử dụng cho bản thân; ngoài ra, trong túi còn có các thanh kim loại, khối kim loại, đĩa kim loại, hộp nhựa, thìa, búa.Đến khoảng 19 giờ 30 phút ngày 11/6/2019, Phạm Thị N là bạn gái của Hoàng A đến gõ cửa, Hoàng A mở cửa và bảo N xuống đợi ở xe ô tô để đi ăn tối. Khi N đi xuống thì Hoàng A lấy một số viên nén ma túy màu xanh gói vào trong giấy vệ sinh màu trắng để trong túi nilon với mục đích sử dụng. Khi lên xe, Hoàng A cất túi ma túy đã chuẩn bị từ trước vào trong túi xách của N và nói để nhờ ít đồ. Hoàng A không nói cho N biết bên trong đựng đồ vật gì. Sau khi ăn xong, Hoàng A điều khiển xe đi đến khu vực đường Quán Nam thì gặp Mạnh là bạn ngoài xã hộinhờ chở đến đường Văn Cao. Trên xe, Mạnh đã trả nợ 5.000.000đồng cho Hoàng A, sau đó xuống xe ở đường Văn Cao, còn Hoàng A tiếp tục chở N về. Khi về đến cửa nhà trọ Hoàng A thì N cầm túi xách màu vàng xuống xe đi vào trong nhà thì bị Công an kiểm tra, thu giữ toàn bộ số ma túy.

Xét hỏi Phạm Thị N khai: Khi Hoàng A lên xe ô tô đã đưa cho N 01 túi nilon chứa nhiều viên nén và bảo cất vào trong túi xách. Trên đường đi, có một nam giới lên xe, Hoàng A đưa một số viên nén đựng trong túi nilon rồi nhận tiền từ người này, sau đólại bảo N cất túi nilon vào túi xách. Ngay sau đó N thay đổi và khai: Khi Hoàng A lên xe ô tô đã lấy túi xách của N rồi để vật gì đó và nói cho để nhờ ít đồ; N không biết Hoàng A và người nam giới lên xe nói chuyện với nhau về việc gì và thấy người này có đưa tiền cho Hoàng A nhưng không rõ để làm gì. Thời điểm Công an kiểm tra, N đi lên phòng của Hoàng A và để túi nilon trong túi xách ra đệm. N không biết việc Hoàng A cất giữ trái phép ma tuý.

TạiCáo trạng số 25/CT-VKS ngày 13tháng 01 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân đã truy tố bị cáoLê Hoàng Avề tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theo điểm hkhoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như nội dung vụ án đã nêu trên.

Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa giữ nguyên quyết định như đã truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

Căn cứ điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 249,điểm h khoản 1 Điều 52; điểms khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Lê Hoàng Amức án từ 12 đến 13 năm tùvề tội Tàng trữ trái phép chất ma túy.

Phạt bổ sung bị cáo số tiền 05 đến 07 triệu đồng để sung quỹ Nhà nước.

Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 hộp carton niêm phong lượng ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao bì;01 hộp giấy niêm phong 01 khẩu súng, 03 viên đạn, 03 vỏ đạn; 02 đĩa kim loại, 05 khối kim loại hình trụ, 01 khối kim loại hình hộp chữ nhật, 12 thanh kim loại hình trụ, 01 hộp nhựa không có nắp, 03 hộp nhựa có nắp, 01 thìa bằng kim loại, 01 thìa nhựa màu trắng, 02 cân điện tử, 02 chai thủy tinh có nắp đậy có gắn ống hút và nỏ thủy tinh, 01 búa bằng gỗ;

Trả lại bị cáo số tiền 5.000.000đồngvà 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsungđã thu giữ của bị cáonhưng tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân quận Lê Chân, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, nội dung bản cáo trạng, báo cáo bắt giữ, vật chứng thu giữ cùng các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào hồi 20 giờ ngày 11/6/2019, tại phòng tầng 4 bên phải cầu thang nhà trọ Hoàng A, thuộc tổ 10 phường KD, quận Lê Chân, Hải Phòng, Lê Hoàng Ađã có hành vi cất giữ trái phépcác viên nén, chất bột, tinh thể, thảo mộc là ma tuý với khối lượng là 8,558gam MDMA, 5,064gam Methamphetamine, 136,834gam Ketamine, 31,154gam Delta 9 - Tetrahydrocannabinol và 58,19gam cần savới mục đích để sử dụng. Do vậy, Hội đồng xét xử đủ cơ sở kết luận bị cáo Lê Hoàng Aphạm tội Tàng trữ trái phép chất ma túy theoĐiều 249 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết định khung:

Bị cáo Lê Hoàng Atàng trữ trái phép 8,558gam MDMA, 5,064gam Methamphetamine, 136,834gam Ketamine, 31,154gam Delta 9 - Tetrahydrocannabinol và 58,19gam cần sanên bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng định khung là “có 02 chất ma túy trở lên mà tổng khối lượng của các chất đó tương đương với khối lượng chất ma túy quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự”. Vì vậy, hành vi phạm tội của bị cáo đã vi phạm vào điểm h khoản 3 Điều 249 Bộ luật Hình sự.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm chế độ quản lý độc quyền của Nhà nước về chất ma túy, làm suy thoái đạo đức, lối sống, là nguyên nhân làm phát sinh những tội phạm khác.MDMA, Methamphetamine, Ketamine, Delta 9 - Tetrahydrocannabinol, cần sa nằm trong danh mục các chất ma túy do Nhà nước quản lý, cấm cất giữ, lưu hành dưới mọi hình thức nhưng đểthỏa mãn nhu cầu của mình bị cáo đã bất chấp pháp luật, cất giữ trái phép để sử dụng, tội phạm bị cáo thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp và quyết tâm phạm tội cao. Vì vậy, cần xét xử bị cáo một mức án nghiêm, bắt cách ly xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục các bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có 02 tiền án: Án số 63/2012/HSST ngày 27/4/2012, Toà án nhân dân quận Lê Chân xử phạt 42 tháng tù về tội Tàng trữ trái phép chất ma tuý; án số 71/2012/HSST ngày 09/8/2012, Toà án nhân dân quận Ngô Quyền xử phạt 42 tháng tù về tội Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, tổng hợp với 32 tháng 03 ngày tù chưa chấp hành của bản án số 63/2012/HSST ngày 27/4/2012 của Toà án nhân dân quận Lê Chân, buộc Hoàng A phải chấp hành hình phạt chung là 74 tháng 03 ngày tù. Do bản số 63/2012/HSST ngày 27/4/2012 của Toà án nhân dân quận Lê Chân xét xử đối với bị cáo về hành vi phạm tội xảy ra sau; bản án số 71/2012/HSST ngày 09/8/2012 của Toà án nhân dân quận Ngô Quyền đã xét xử đối với bị cáo về hành vi phạm tộixảy ra trước, đồng thời tổng hợp với hình phạt tù chưa chấp hành án của bản án số 63/2012/HSST ngày 27/4/2012 của Toà án nhân dân quận Lê Chân, đến nay chưa được xóa án tích nên lần phạm tội này bị cáo phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự là “tái phạm” quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự.

- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Tại cơ quan điều tra cũng như tại phiên toà bị cáo đã khai báo thành khẩn hành vi phạmtội của mìnhnên cần xem xét áp dụng điểms khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo là phù hợp.

- Về hình phạt bổ sung:

Theo quy định tại khoản 5 Điều 249 Bộ luật Hình sự thì bị cáo có thể bị phạt bổ sung là phạt tiền.Do đó, cần phạt bổ sung bị cáo một khoản tiền để sung quỹ Nhà nước.

- Về xử lý vật chứng:

Số ma tuý mà cơ quan Công an thu giữ khi bắt giữ bị cáo, sau khi lấy đi giám định, lượng còn lại xét là vật Nhà nước cấm lưu hành nên căn cứ điểm c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu huỷ.

Đối với 01 khẩu súng, 03 viên đạn và 03 vỏ đạnthuộc đồ chơi nguy hiểm bị cấm, không phải là vũ khí quân dụng, xét là vật cấm tàng trữ nên căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với 02 đĩa kim loại, 05 khối kim loại hình trụ, 01 khối kim loại hình hộp chữ nhật, 12 thanh kim loại hình trụ, 01 hộp nhựa không có nắp, 03 hộp nhựa có nắp, 01 thìa bằng kim loại, 01 thìa nhựa màu trắng, 02 cân điện tử, 02 chai thủy tinh có nắp đậy có gắn ống hút và nỏ thủy tinh, 01 búa bằng gỗ thu giữ của bị cáo, xét là vật không có giá trị sử dụng nên căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự cần tịch thu tiêu hủy.

Đối với số tiền 5.000.000đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsungđã thu giữ của bị cáo, xét là tài sản của bị cáo không liên quan đến việc phạm tội nên trả lại cho bị cáo nhưngcần tiếp tục tạm giữ để đảm bảo thi hành án.

- Về các vấn đề khác:

Số tiền 29.000.000đồng thu giữ khi bắt giữ bị cáo, quá trình điều tra xác định là tài sản của ông Lê Viết M, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Hải Phòng đã trả lại cho ông M nên không xem xét.

Chiếc xe ô tô biển kiểm soát: 15A - 414.88 là do Hoàng A thuê để sử dụng, Cơ quan cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã trả lại cho Công ty Trách nhiệm hữu hạn phát triển thương mại Thành Đạt Phát nên không xem xét.

Đối với Phạm Thị N và Lê Viết M do không biết việc Lê Hoàng A cất giữ trái phép chất ma tuý nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không có cơ sở để xử lý.

Đối với đối tượng Mạnhlà người đã trả nợ số tiền 5.000.000đồng và đối tượng Tùng là người đã cho Hoàng A 01 khẩu súng, do không rõ căn cước, lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân không có cơ sở để điều tra.

Đối với hành vi cất giữ trái phép đồ chơi nguy hiểm là 01 khẩu súng, 03 viên đạn và 03 vỏ đạn của Lê Hoàng A, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân quận Lê Chân đã ra Quyết định xử lý hành chính đối với Hoàng A.

Đối với 01 chiếc túi xách, 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone, 01 chứng minh nhân dân mang tên Phạm Thị N và 01 thẻ ATM, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an quận Lê Chân đã trả lại cho N nên không xem xét.

- Về án phí:

Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm h khoản 3, khoản 5 Điều 249;điểm h khoản 1 Điều 52; điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt: Bị cáo Lê Hoàng A12 (mười hai) năm tùvề tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ là ngày 11 tháng 6 năm 2019.

Phạt bổ sung bị cáo số tiền 07 (bảy) triệu đồng để sung quỹ Nhà nước.

Về xử lý tang vật: Căn cứ điểma, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự; điểm a,ckhoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự;

Tịch thu tiêu hủy 01 hộp carton niêm phong lượng ma túy còn lại sau giám định cùng toàn bộ vỏ bao bì;01 hộp giấy niêm phong 01 khẩu súng, 03 viên đạn, 03 vỏ đạn; 02 đĩa kim loại, 05 khối kim loại hình trụ, 01 khối kim loại hình hộp chữ nhật, 12 thanh kim loại hình trụ, 01 hộp nhựa không có nắp, 03 hộp nhựa có nắp, 01 thìa bằng kim loại, 01 thìa nhựa màu trắng, 02 cân điện tử, 02 chai thủy tinh có nắp đậy có gắn ống hút và nỏ thủy tinh, 01 búa bằng gỗ;

Tiếp tục tạm giữ số tiền 5.000.000đ (năm triệu đồng)và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Samsung thu giữ của bị cáođể đảm bảo thi hành án.

(Theo đúng Biên bản giao nhận tài sản, vật chứng ngày 15 tháng 01 năm 2020 tại Chi cục Thi hành án dân sự quận Lê Chân).

Về án phí: Căn cứ vào khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội;

Buộc bị cáo phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm để sung quỹ Nhà nước.

Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Về quyền yêu cầu thi hành án: Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ