- Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị T trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự; Điều 52 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN Q. HẢI CHÂU CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2020/HS-ST Ngày: 05 - 6 – 2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HẢI CHÂU, THÀNH PHỐ ĐÀ NẴNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đoàn Công Quốc
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Huỳnh Thanh Trà
Ông Huỳnh Tiễn
- Thư ký phiên tòa: Bà Trần Thị Linh Phương – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng tham gia phiên tòa: Ông Đinh Ngọc Vĩnh - Kiểm sát viên.
Ngày 05 tháng 6 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng mở phiên tòa xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 37/2020/HSST ngày 23/4/2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 39/2020/QĐXXST-HS ngày 19 tháng 5 năm 2020 đối v i bị cáo:
Nguyễn Thị T, sinh ngày 01/7/1972 tại Đà Nẵng; i i t nh: N ; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và chỗ ở: X, t Y, phường N, quận S, thành phố Đà Nẵng; Trình độ học vấn: 4/12; Nghề nghiệp: Lao động ph thông; Con ng Nguy n Văn L chết và bà Nguy n Thị T chết , có ch ng là Hu nh Văn T và 03 con con l n nhất sinh năm 1990, con nh nhất sinh năm 2000 ; Tiền án, tiền sự: Kh ng;
Bị cáo tại ngoại Có m t
* Người bị hại: Bà Nguyễn Thị Thu TT sinh năm: 1960; Trú: đường L, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng Có đơn xin xét xử v ng m t
* Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
1/ Bà Ngô Thị Ngọc L, sinh năm 1975; Trú tại: đường H, quận H, thành phố Đà Nẵng V ng m t
2/ Bà Hoàng Thị Thanh M, sinh năm 1968; Trú tại: đường C, phường H, quận H, thành phố Đà Nẵng V ng m t
3/ Bà Nguyễn Thị Duy N, sinh năm 1984; Trú tại: đường L, phường A, quận S, thành phố Đà Nẵng V ng m t
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và qua di n biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm t t như sau: Nguy n Thị T là người giúp việc cho nhà bà Nguy n Thị Thu T tại đường L, phường H, quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng Trong khoảng thời gian t tháng 9 đến tháng 10/2019 lợi dụng sơ hở của bà Nguy n Thị Thu T, bị cáo đ 04 l n thực hiện hành vi trộm c p Cụ thể:
L n th nhất: Khoảng đ u tháng 9/2019 trong lúc rửa chén tại phòng bếp tại t ng 2, T phát hiện trong tủ k nh cạnh bếp có một túi nh b ng vải màu đ , T mở túi ra thì thấy một số trang s c b ng vàng của bà T nên đ trộm 01 nh n vàng 18K trọng lượng 01 ch sau đó mang đến tiệm vàng K do bà Nguy n Thị Duy N làm chủ bán được 1 000 000đ và tiêu xài cá nhân, tài sản kh ng thu h i được, bà N kh ng th a nhận đ mua vàng của T.
L n th hai: Cách l n th nhất khoảng 3 ngày sau, T tiếp tục trộm c p một dây chuyền vàng trọng lượng 03 ch trong túi vải màu đ để trên tủ bếp nhà bà T r i mang đến tiệm vàng T do bà Hoàng Thị Thanh M làm chủ bán được 2 000 000đ tiêu xài cá nhân Tài sản kh ng thu h i được, bà M kh ng th a nhận đ mua số vàng của T.
L n th ba: Cách l n th hai khoảng 1 tu n, T tiếp tục trộm 01 nh n vàng 18K trọng lượng 01 ch trong túi vải màu đ để ph a trên tủ cạnh bếp của bà T sau đó mang đến tiệm vàng K bán được 1 000 000đ và tiêu xài cá nhân Tài sản kh ng thu h i được, bà N kh ng th a nhận mua vàng của T.
L n th tư: Sau l n th 3 khoảng 1 tu n, trong lúc dọn d p phòng ngủ của bà T tại t ng 3, T lục tìm trong ngăn kéo tủ trang điểm trong phòng có một hộp k nh màu tr ng, T mở ra thấy bên trong có 01 v nh , trong v có ch a một nh n trang s c b ng vàng có trọng lượng 02 ch r i đem đến tiệm vàng T Lợi bán được 8 000 000đ và tiêu xài cá nhân Tài sản kh ng thu h i được, bà M kh ng th a nhận mua vàng của T.
Để theo d i xem ai là người trộm c p tài sản, vào ngày 07/10/2019 bà T có l p đ t 01 camera tại phòng ngủ đ ng thời b 01 nh n vàng giả vào hộp k nh trong phòng trang điểm đến ngày 08/10/2019, khi tr ch xuất hình ảnh t camera bà T phát hiện Nguy n Thị T là người lấy c p tài sản nên ngày 11/10/2019 bà T đ trình báo Cơ quan C ng an, Tại Cơ quan C ng an, T th a nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình và Cơ quan C ng an thu gi 01 nh n vàng giả t túi đ của T.
Tang vật thu gi :
- 01 một Đĩa DVD – hiệu Ming shen, bên trong có ch a d liệu video ghi lại hình ảnh Nguy n Thị T trộm c p tài sản vào ngày 08/10/2019 thu gi t Nguy n Thị Thu T);
- 01 một nh n b ng kim loại màu vàng đ qua sử dụng kh ng r trọng lượng (thu gi t Nguy n Thị T);
- 01 một xe m t BKS 43X6-6753 thu gi t Nguy n Thị T)
Theo kết luận định giá tài sản số 181/KL-HĐĐ ngày 09/12/2019 của Hội đ ng định giá tài sản trong tố tụng hình sự UBND quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng kết luận: 01 nh n vàng 18K, 01 ch đ qua sử dụng có trị giá 3 021 200đ; 01 dây chuyền vàng 18K, 3 ch đ qua sử dụng có trị giá 9 064 800đ; 01 nh n vàng 18K, 01 ch đ qua sử dụng có trị giá 3 021 200đ; 01 nh n vàng 9999, hai ch đ qua sử dụng có trị giá 8 017 000đ T ng tài sản chiếm đoạt có trị giá 23 215 000đ
iêng đối v i nh n vàng T trộm c p vào ngày 08/10/2019 chị T xác định là vàng giả, kh ng có giá trị Cơ quan Điều tra c ng tiến hành đánh giá chất lượng và xác định nh n này là giả, kh ng có giá trị
Về dân sự: Quá trình điều tra, bị cáo đ tự nguyện b i thường cho bà Nguy n Thị Thu T số tiền 14 000 000đ, bà T nhận đủ số tiền và kh ng có yêu c u gì thêm
Tại bản cáo trạng số 42/CT-VKS ngày 23 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đ truy tố bị cáo Nguy n Thị T về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự;
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát gi nguyên quan điểm truy tố đối v i bị cáo về tội danh nói trên đ ng thời đề nghị Hội đ ng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173 điểm b, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo t 12 đến 18 tháng t Về vật ch ng: Đề nghị Hội đ ng xét xử tiếp tục tạm gi tại h sơ vụ án 01 đĩa DVD – do người bị hại giao nộp để phục vụ việc xét xử.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Nguy n Thị T đều khai nhận hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đ đề cập Bị cáo kh ng khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng; Bị cáo c ng thống nhất về tội danh mà Viện kiểm sát đ truy tố và điều luật đề nghị áp dụng tại phiên tòa, ch xin Hội đ ng xét xử xem xét giảm nh hình phạt để bị cáo có cơ hội chăm sóc gia đình.
Người bị hại Nguy n Thị Thu T có đơn xin xét xử v ng m t đ ng thời xin b i nại đối v i bị cáo. Nh ng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan v ng m t tại phiên tòa nhưng quá trình điều tra c ng đ có nội dung trình bày t chối, kh ng th a nhận việc mua vàng của bị cáo T.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Căn c vào các tài liệu, ch ng c có trong h sơ vụ án đ được thẩm vấn c ng khai tại phiên tòa, Hội đ ng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự Quá trình điều tra, truy tố bị cáo và nh ng người tham gia tố tụng khác kh ng có ý kiến khiếu nại gì Tại phiên tòa bị cáo, c ng kh ng có ý kiến gì về hành vi, quyết định tố tụng như đ đề cập Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện là hợp pháp
Xét lời khai của bị cáo tại phiên tòa là ph hợp v i lời khai của người bị hại, biên bản xác định vị tr gây án c ng như các tài liệu, ch ng c khác có tại h sơ vụ án, cụ thể: Nguy n Thị T là người giúp việc nhà cho bà Nguy n Thị Thu T tại đường L, phường H, quận Hải Châu, thành phố Đa Nẵng Trong thời gian giúp việc tại nhà bà T t tháng 9 đến tháng 10 năm 2019, lợi dụng việc bà T để tài sản sơ hở, bị cáo đ 04 l n trộm c p các tài sản g m 02 nh n vàng 18K, 01 nh n vàng 9999, 01 sợ dây chuyền vàng, t ng trị giá tài sản bị trộm c p là 23 215 000đ Ngoài ra, bị cáo còn trộm c p 01 nh n giả kh ng có giá trị và bị hình ảnh camera ghi lại vào ngày 08/10/2019 Do đó Hội đ ng xét xử có cơ sở khẳng định cáo trạng số số 42/CT-VKS ngày 23 tháng 4 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân quận Hải Châu, thành phố Đà Nẵng đ truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự là có căn c , đúng tội
Xét t nh chất vụ án thì thấy: Hành vi của bị cáo đ xâm phạm đến quyền sở h u tài sản của người khác, gây ảnh hưởng xấu đến tình hình trật tự trị an x hội. Ch trong thời gian ng n, t tháng 9 đến tháng 10 bị cáo đ bốn l n thực hiện hành vi trộm c p, chiếm đoạt t ng tài sản trị giá hàng chục triệu đ ng, hành vi của bị cáo thuộc trường hợp phạm tội t hai l n trở lên do đó đối v i bị cáo c n phải bị xử phạt th ch đáng, cách ly ra ngoài x hội một thời gian để cải tạo m i có tác dụng giáo dục đ ng thời làm gương cho người khác
Về các tình tiết giảm nh : Bị cáo có nhân thân tốt, sau khi phạm tội đ tự nguyện b i thường cho người bị hại số tiền 14 000 000đ và được người bị hại b i nại, quá trình điều tra đ khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải Do đó HĐXX áp dụng các tình tiết giảm nh quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự để giảm nh hình phạt cho bị cao khi lượng hình
Đối v i nh ng người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan trong vụ án thì thấy:
[5 1] Đối v i bà Hoàng Thị Thanh M, bà Nguy n Thị Duy N là chủ tiệm vàng K và tiệm vàng N, quá trình điều tra bị cáo T khai bán vàng tại các cửa hàng này, nhưng cả bà M, bà N đều kh ng th a nhận mua vàng của bị cáo Ngoài ch ng c là lời khai, kh ng còn ch ng c nào khác để xác định việc bị cáo bán vàng như đ khai M t khác vấn đề dân sự của vụ án đ được bị cáo và người bị hại thống nhất, bị cáo đ b i thường và người bị hại c ng kh ng có yêu c u gì thêm Do đó Hội đ ng xét xử kh ng đề cập trách nhiệm liên quan đến bà M, bà N trong vụ án
[5 1] Đối v i người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan Ng Thị Ngọc L cho bị cáo Nguy n Thị T mượn xe m t BKS 43X6-67xx để làm phương tiện đi làm Bà L kh ng biết việc bị cáo trộm c p Cơ quan Điều tra đ trả lại xe m t và bà L kh ng có yêu c u gì nên HĐXX kh ng xem xét
Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra bị cáo đ b i thường cho người bị hại Nguy n Thị Thu T số tiền 14 000 000đ, người bị hại đ nhận đủ số tiền và kh ng có yêu c u gì thêm Tại phiên tòa người bị hại đ có đơn xin xét xử v ng m t đ ng thời b i nại cho bị cáo Xét đây là sự tự nguyện gi a bị cáo và người bị hại nên Hội đ ng xét xử kh ng đề cập
Về xử lý vật chứng: Đối v i các vật ch ng là xe m t BKS 43X6-67xx và 01 nh n vàng giả thu t Nguy n Thị T, Cơ quan Điều tra đ xử lý trả lại xe cho bà Ng Thị Ngọc L, trả lại nh n cho bà Nguy n Thị Thu T Xét việc trả lại tài sản trên là ph hợp, bà L, bà T đ nhận lại tài sản và kh ng có ý kiến gì nên HĐXX kh ng đề cập xem xét iêng đối v i vật ch ng là một đĩa DVD – hiệu Ming shen, bên trong có ch a d liệu video ghi lại hình ảnh Nguy n Thị T trộm c p tài sản vào ngày 08/10/2019, Hội đ ng xét xử thấy c n tiếp tục lưu tại h sơ vụ án để phục vụ xét xử
Về án ph : Bị cáo Nguy n Thị T phải chịu án ph sơ thẩm theo quy định tại Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về m c thu, mi n, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án ph , lệ ph Tòa án
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
1. Căn cứ vào: Khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự;
Xử phạt: Nguyễn Thị T 12 Mười hai tháng t , thời gian chấp hành hình phạt t t nh t ngày b t giam thi hành án
2. Về xử lý vật chứng: p dụng Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự;
Tiếp tục lưu gi tại h sơ vụ án 01 đĩa DVD – hiệu MING shen, bên trong có ch a d liệu video ghi lại hình ảnh Nguy n Thị T trộm c p tài sản vào ngày 08/10/2019 để phục vụ xét xử.
3. Về án phí: p dụng Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội;
Buộc bị cáo Nguy n Thị T phải chịu 200 000đ án ph hình sự sơ thẩm
4. Về quyền kháng cáo: n xử sơ thẩm, báo cho bị cáo có m t tại phiên tòa biết có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể t ngày tuyên án h m nay Riêng người bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan v ng m t tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể t ngày nhận được ho c niêm yết bản sao bản án
| Nơi nhận: - VKSND quận Hải Châu; - VKSND TP Đà Nẵng; - TAND TP Đà Nẵng; - CQCSĐT CA quận Hải Châu; - THA dân sự quận Hải Châu; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà (Đã ký) Đoàn Công Quốc |