- Tranh chấp gì? án hình sự — "Tàng Văn Đ phạm tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài". - phạm tội tổ chức, cưỡng ép người khác trốn đi nước ngoài hoặc ở lại nước ngoà…"
- Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc | |
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L tØnh BẮC GIANG B¶n ¸n sè: 40/2020/HS - ST Ngµy 22/5/2020. Nh©n danh nƯíc céng hoµ x· héi chñ nghÜa viÖt nam |
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN L TỈNH BẮC GIANG
Thµnh phÇn héi ®ång xÐt xö s¬ thÈm gåm cã:
*ThÈm ph¸n – Chñ to¹ phiªn toµ: Bà Lương Thị Ngọc Hà.
*C¸c Héi thÈm nh©n d©n: - 1. Ông Ninh Văn Trung.
-2. Ông Ngô Đức Thủy.
* Thư ký ghi biªn b¶n phiªn toµ: Bµ Vũ Thị Thu Trang - C¸n bé Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn L.
*§¹i diÖn ViÖn kiÓm s¸t nh©n d©n huyÖn L tham gia phiªn toµ:
Ông Hoàng Minh Đức - KiÓm s¸t viªn.
Ngµy 22 th¸ng 5 n¨m 2020 t¹i Trụ sở Toµ ¸n nh©n d©n huyÖn L xÐt xö sơ thẩm công khai vụ án hình sự s¬ thÈm thô lý sè: 34/2020/HSST ngµy 31 th¸ng 3 n¨m 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 36/2020/QĐXXST - HS ngµy 23 th¸ng 4 n¨m 2020 ®èi víi bÞ c¸o:
Họ và tên: Tàng Văn Đ; Tên gọi khác: Không. Sinh năm: 1988.
Sinh, trú quán: Thôn T, xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang. Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 9/12; Dân tộc: Nùng; Giới tính: nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Chức vụ (Đảng, chính quyền, đoàn thể): Không; Con ông Tàng Văn D, sinh năm 1963 và bà Hoàng Thị H1, sinh năm 1964. Có vợ: Hoàng Thị K, sinh năm 1992.Con: Có 01 con sinh năm 2011.
Tiền án, tiền sự: Không;
Bị cáo đầu thú, bị tạm giữ từ ngày 09/12/2019 đến ngày 12/12/2019 được thay thế biện pháp ngăn chặn, tại ngoại tại địa phương. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
* Người bào chữa cho bị cáo:
1. Bà Giáp Thị H2 - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Giang ( Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt ).
2. Bà Thân Thị Thúy V - Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm Trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Bắc Giang ( Có mặt ).
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Anh Lục Văn H - Sinh năm 1987 ( Vắng mặt ). Trú tại: Thôn P, xã T, huyÖn L, tØnh Bắc Giang. Hiện đang chấp hành án tại Phân trại số 6, Trại giam P, tỉnh Thái Nguyên.
2. Anh Lục Văn Đ1 - Sinh n¨m 1984( Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt )
3. Chị Trần Thị C - Sinh n¨m 1986 ( Vắng mặt ).
4. Anh Vi Văn P - Sinh n¨m 1986. ( Vắng mặt )
5. Chị Trương Thị Y - Sinh n¨m 1991. ( Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt )
6. Anh Hoàng Văn L - Sinh n¨m 1994. ( Vắng mặt )
7. Anh Lê Văn M - Sinh n¨m 1997. ( Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt )
Đều trú quán: Thôn P, xã T, huyÖn L, tØnh Bắc Giang.
8. Anh Vi Văn T - Sinh n¨m 1990. ( Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt )
9. Anh Vi Văn Đ2 - Sinh n¨m 1992. ( Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt )
Đều trú quán: Thôn K, xã T, huyÖn L, tØnh Bắc Giang.
10. Anh Thi Văn Đ3 - Sinh n¨m 1992. ( Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt )
11. Anh Thi Văn C1 - Sinh n¨m 1995. ( Vắng mặt )
12. Anh Vương Văn Đ4 - Sinh n¨m 1990. ( Vắng mặt ) Đều trú quán: Thôn Đ, xã B, huyÖn L, tØnh Bắc Giang.
13. Anh Đặng Văn M1 - Sinh n¨m 1992. ( Vắng mặt )
14. Anh Đặng Văn T1 - Sinh n¨m 1994. ( Vắng mặt )
15. Chị Đặng Thị T2 - Sinh n¨m 1994. ( Vắng mặt, có đơn xin vắng mặt )
Đều trú quán: Thôn S, xã P, huyÖn L, tØnh Bắc Giang.
*Người làm chứng:
1. Anh Hà Văn H2 - Sinh n¨m 1995. ( Vắng mặt ) Trú quán: Thôn B, xã B, huyÖn L, tØnh Bắc Giang.
2. Anh Phan Văn C2 - Sinh n¨m 1978. ( Vắng mặt ) Trú quán: Thôn T, xã P, huyÖn L, tØnh Bắc Giang. Hiện đang chấp hành án tại trại giam N, tỉnh Bắc Giang.
3. Bà Lý Thị P - Sinh n¨m 1952. ( Vắng mặt ) Trú quán: Phố L, thị trấn L, huyÖn L, tØnh Lạng Sơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Năm 2008, 2009, Tàng Văn Đ vượt biên trái phép sang Trung Quốc làm thuê. Để sang Trung Quốc, Đ đã thuê Hoàng Văn B, sinh 1975, ở thôn C, xã Y, huyện L, tỉnh Lạng Sơn đưa theo lối đường mòn ở gần cửa khẩu C, tỉnh Lạng Sơn sang Trung Quốc. Đ làm thuê tại một xưởng sản xuất đồ chơi bằng nhựa ở Thành 2, San Thầu, tỉnh Quảng Đông, Trung Quốc do một người Trung Quốc tên là A. Pống làm quản lý. Trong năm 2009, A. Pống mở xưởng riêng nên A Pống bảo Đ về tìm lao động đưa sang làm thuê, A.Pống sẽ cho Đ làm quản lý và trả công cho Đ 50 nhân dân tệ (NDT)/người, Đ đồng ý. Đến cuối năm 2009, Đ về Việt Nam đi tìm, rủ người để đưa sang Trung Quốc làm thuê, cụ thể như sau:
Đầu tháng 01/2010 (âm lịch), Tàng Văn Đ gặp Lục Văn H, sinh 1987, ở thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang và bảo H đi tìm và rủ người sang Trung Quốc làm thuê để Đ đưa đi. Đ nói cho H biết: Sang Trung Quốc làm thuê ở Công ty sản xuất đồ chơi bằng nhựa, lương trả theo sản phẩm, làm nhiều được hưởng nhiều, nếu chịu khó thì được khoảng 1800 NDT/tháng (thời điểm đó tương đương khoảng 6.000.000 VNĐ), đi bằng con đường vượt biên trái phép qua khu vực cửa khẩu C, Lạng Sơn, không phải làm thủ tục giấy tờ gì, chi phí đi 2.500.000 đồng một người. Riêng H thì Đ cho biết chủ Trung Quốc sẽ trả 50 NDT/người, H đồng ý. Sau đó H và Đ đã đi tìm, rủ được 14 người, cụ thể:
Lục Văn H trực tiếp tìm rủ được 08 người: Lục Văn Đ5, sinh 1984; Trần Thị C, sinh 1986; Vi Văn P, sinh 1986; Trương Thị Y, sinh 1991; Hoàng Văn L, sinh 1994; Lê Văn M, sinh 1997 đều ở thôn P, xã T, huyện L; Vi Văn T, sinh 1990; Vi Văn Đ2, sinh 1992 đều ở thôn K, xã T, huyện L. H thu tiền của 08 người do H rủ đi mỗi người 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm nghìn đồng) và đưa cho Định.
Tàng Văn Đ trực tiếp tìm rủ: Thi Văn Đ3, sinh 1992, Thi Văn C1, sinh 1995 đều ở thôn Đ, xã B, huyện L và Đặng Văn M1, sinh 1992 thôn S, xã P, huyện L. Sau khi được Đ rủ đi Trung Quốc lao động, Đ3 rủ thêm Vương Văn Đ4, sinh năm 1990 ở cùng thôn; M1 rủ thêm Đặng Văn T1, sinh 1994; Đặng Thị T2, sinh 1994 đều ở cùng thôn với M1 sang Trung Quốc lao động bất hợp pháp. Đ thu mỗi người 2.500.000đ (hai triệu năm trăm nghìn đồng).
Sau khi xác định được số người đi Trung Quốc lao động, Đ gọi điện thông báo cho A. Pống biết số lượng người sang để A. Pống sắp xếp việc làm cho người lao động. Khoảng đầu tháng 02/2010 (tháng 01/2010 âm lịch), Đ thuê xe ô tô 16 chỗ ngồi (Đ không nhớ là thuê xe ô tô của ai) để đưa các lao động đi Trung Quốc lao động bất hợp pháp. Đ đưa các lao động trên đến nhà của Lý Thị P, sinh năm 1952 ở khu L, thị trấn L, huyện L, tỉnh Lạng Sơn đổi tiền và thuê P đưa Đ, H và 14 lao động trên vượt biên sang Trung Quốc, với chi phí đưa biên là 100.000 đồng/01 người. P đưa Đ cùng với các lao động vượt biên theo lối đường mòn ở khu vực cửa khẩu C sang Trung Quốc. Sang đến đất Trung Quốc, Đ đón xe khách đưa người lao động vào làm thuê tại xưởng của A Pống. Đến cuối năm 2010, Đ nhờ A Pống thuê xe đưa H và các lao động về nước, còn Đ không về mà ở lại làm thêm. Số tiền Đ thu của các lao động Đ đã trả tiền thuê xe, tiền ăn uống trên đường hết, số tiền 50NDT/01 người như A Pống hứa, Đ khai chưa được A.Pống trả nên Đ không được hưởng lợi gì từ việc đưa người sang Trung Quốc làm thuê.
Năm 2014, sau khi xác minh đơn tố cáo của người lao động, ngày 22/5/2014 Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Bắc Giang đã khởi tố vụ án; trong năm 2014, 2015 khởi tố các bị can Phan Văn C2, Hà Văn H2, Lý Thị P, Hoàng Văn B, Lục Văn H, Vi Văn Đ6, Nguyễn Thị H3, Vi Văn Q, Phan Thị T3 và ngày 15/9/2014 khởi tố bị can Tàng Văn Đ về tội Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài. Tại bản Cáo trạng số 92/KSĐT ngày 25/9/2015 của Viện KSND huyện L, tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị can Phan Văn C2, Hà Văn H2, Lý Thị P, Hoàng Văn B, Lục Văn H, Vi Văn Đ6, Nguyễn Thị H3 (trong đó Vi Văn Đ6, Nguyễn Thị H3 không liên quan đến Tàng Văn Đ). Đối với Vi Văn Q, Phan Thị T3 và Tàng Văn Đ trốn nên Cơ quan ANĐT đã ra Quyết định truy nã. Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2015/HSST ngày 07/12/2015 của Tòa án nhân dân huyện L và Bản án hình sự phúc thẩm số 90 /2016/HSPT ngày 11/5/2016 của Tòa án nhân dân tỉnh Bắc Giang xét xử các bị cáo Phan Văn C2, Lục Văn H, Hà Văn H2, Lý Thị P, Hoàng Văn B, Vi Văn Đ6, Nguyễn Thị H3 về tội Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài theo khoản 2, Điều 275 Bộ luật hình sự năm 1999.
Khi Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Bắc Giang phát hiện và khởi tố vụ án, khởi tố bị can, Tàng Văn Đ đang lao động bên Trung Quốc nên Cơ quan An ninh điều tra đã ra quyết định truy nã, quyết định tách vụ án hình sự, quyết định tạm đình chỉ vụ án và tạm đình chỉ bị can đối với Đ. Ngày 09/12/2019, Tàng Văn Đ về nước và đến Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Bắc Giang đầu thú và khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như đã nêu trên.
* Tại bản Cáo trạng số 92/KSĐT ngày 25/9/2015 và Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2015/HSST ngày 07/12/2015 xác định ngoài hành vi nêu trên, Tàng Văn Đ còn 04 lần tổ chức đưa H, H2 và người lao động trốn đi nước ngoài, 01 lần được Phan Văn C2 nhờ thuê xe ô tô đón 52 lao động từ bến xe N- Trung Quốc đưa đến chỗ làm, cụ thể:
- Lần 1: Đầu tháng 01/2011 (âm lịch) Đ tổ chức đưa H cùng 15 lao động trên địa bàn huyện L, S vượt biên trái phép sang Trung Quốc lao động bất hợp pháp.
- Lần 2: Đầu tháng 02/2011 (âm lịch), Đ tổ chức đưa H cùng 12 lao động trên địa bàn huyện L, S vượt biên trái phép sang Trung Quốc lao động bất hợp pháp.
- Lần 3: Khoảng 20/02/2011 (âm lịch), Đ tổ chức đưa H cùng 26 lao động trên địa bàn huyện L, Sơn Đ vượt biên trái phép sang Trung Quốc lao động bất hợp pháp.
- Lần 4: Ngày 18/01/2013 (âm lịch), Đ tổ chức đưa H2 cùng 14 lao động trên địa bàn huyện L, S và thuê Hoàng Văn B đưa vượt biên trái phép sang Trung Quốc lao động bất hợp pháp.
Sau khi phục hồi điều tra vụ án, H thay đổi lời khai và khẳng định chỉ 01 lần được Đ đưa H cùng 14 lao động vượt biên trái phép sang Trung Quốc lao động bất hợp pháp như đã nêu trên, còn những lần khác do H tự đưa đi. Hà Văn H2 thay đổi lời khai không được Đ đưa sang Trung Quốc lao động bất hợp pháp; Phan Văn C2 thay đổi lời khai là chỉ xin Đ số điện thoại xe ô tô, Đ không đến đón người lao động giúp C2. Hoàng Văn B thay đổi lời khai là không đưa Đ cùng người lao động sang Trung Quốc, B chỉ đưa một mình Đ sang Trung Quốc; Lý Thị P thay đổi lời khai là chỉ một lần đưa Đ cùng 15 lao động vượt biên sang Trung Quốc như đã nêu trên, ngoài ra không còn lần nào khác.
Về lời lời khai của người lao động: Lời khai của người lao động được tiến hành năm 2014-2015 đều khai được H, H rủ đi Trung Quốc lao động bất hợp pháp, một số người lao động khai khi đi có Tàng Văn Đ đi cùng xe. Kết quả điều tra sau khi phục hồi, đa số người lao động trong 04 lần (từ tháng 01/2011- tháng 01/2013- âm lịch) sang Trung Quốc lao động bất hợp pháp nêu trên đều không có mặt tại địa phương; một số người lao động có mặt tại địa phương, Cơ quan điều tra tiến hành lấy lời khai được của 14 người lao động, cụ thể:
- Đối với số lao động đi lần 1, tiến hành lấy lời khai được của Nguyễn Văn H4, sinh năm 1995, Chu Văn B, sinh năm 1988; Lưu Thị L1, sinh năm 1992, đều ở thôn K, xã T, huyện L; Nông Văn L2, sinh năm 1988, Hoàng Văn B, sinh năm 1972; Lục Văn V, sinh năm 1991, Hà Văn T3, sinh năm 1987 đều ở thôn B, xã B, huyện L.
- Đối với số lao động đi lần 2, tiến hành lấy lời khai được của Hoàng Văn B, sinh năm 1972 ở thôn B, xã B, huyện L; Trương Văn B2, sinh năm 1988, Nông Thị V1, sinh năm 1987 đều ở thôn K, xã T, huyện L; Vi Văn T5, sinh năm 1994, Hoàng Thị N, sinh năm 1988 ở thôn P, xã T, huyện L.
- Đối với số lao động đi lần 3, tiến hành lấy lời khai được của Nguyễn Văn H3, sinh năm 1995, Chu Văn B, sinh năm 1988; Lưu Thị L, sinh năm 1992, đều ở thôn K, xã T, huyện L.
- Đối với số lao động đi lần 4, tiến hành lấy lời khai được của: Bùi Văn S, sinh năm 1977 ở T, xã T, huyện L; Hoàng Văn N, sinh năm 1984, ở H, B, L, Hoàng Văn L5, sinh năm 1989 ở Đ, C, S.
Tất cả số người lao động nêu trên đều khai được H, H2 rủ đi Trung Quốc lao động bất hợp pháp, Đ không đi cùng, chỉ gặp Đ khi lao động bên Trung Quốc.
Do vậy, không đủ căn cứ để xem xét xử lý Tàng Văn Đ về 04 lần đưa H2, H cùng một số người lao động vượt biên trái phép sang Trung Quốc lao động bất hợp pháp như Cáo trạng số 92/KSĐT ngày 25/9/2015 và Bản án hình sự sơ thẩm số 112/2015/HSST ngày 07/12/2015 đã nêu.
Lời khai nhận của bị cáo Đ phù hợp với lời khai của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người làm chứng và các tài liệu có trong hồ sơ.
Tại bản cáo trạng số: 15/ CT - VKS - HS ngày 30 tháng 3 năm 2020, Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang đã truy tố bị cáo Tàng Văn Đ về tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài” theo quy định tại khoản 1 Điều 275 Bộ luật hình sự 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên toà sau khi phân tích tính chất vụ án, giữ nguyên quyết định truy tố tại bản Cáo trạng đối với bị cáo và đề xuất ý kiến xử phạt bị cáo như sau:
- ¸p dông kho¶n 1 §iÒu 275 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009. Điểm s kho¶n 1, 2 §iÒu 51; §iÒu 65 Bé luËt h×nh sù năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
- Tuyên bố Tàng Văn Đ phạm tội “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài”.
- Xử phạt bị cáo Tàng Văn Đ từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách từ 04 đến 05 năm tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
* ¸n phÝ: ¸p dông điểm đ §iÒu 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án, miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo.
Tại phiên toà bị cáo khai nhận đúng hành vi như đã khai tại cơ quan điều tra, bị cáo xác định khi cơ quan điều tra có Quyết định khởi tố đối với bị cáo thì bị cáo vẫn đang làm bên Trung Quốc, do bị cáo bị chém vào đầu và tay nên phải điều trị ở bệnh viện Trung Quốc và phải vay tiền của chủ ở Trung Quốc để điều trị. Khi sức khỏe ổn định thì bị cáo phải ở lại làm thuê để trả tiền cho chủ nên không về được Việt Nam. Tháng 12 năm 2019 bị cáo trả xong nợ nên mới về Việt Nam để đầu thú về hành vi phạm tội nên mới nhận được Quyết định khởi tố bị can. Bị cáo thừa nhận Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố đối với bị cáo là hoàn toàn đúng hành vi bị cáo đã thực hiện.
Người bào chữa cho bị cáo: Bà Thân Thị Thúy V ®· nªu c¸c c¨n cø và nhÊt trÝ víi b¶n c¸o tr¹ng cña viÖn kiÓm s¸t nh©n d©n tỉnh Bắc Giang. Do bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ phạm tội không vì mục đích mưu lợi cá nhân, có ông nội là người có công với cách mạng; khi biết hành vi bị phát hiện đã ra đầu thú; hoàn cảnh gia đình khó khăn nên đề nghị HĐXX căn cứ vào các quy định của Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo từ 01 năm 6 tháng đến 02 năm tù nhưng cho hưởng án treo để cải tạo tại địa phương và có điều kiện chăm sóc gia đình.
Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo được cải tạo tại địa phương để chăm sóc gia đình.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[ 1 ] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan an ninh điều tra Công an tỉnh Bắc Giang, Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bắc Giang, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên toà bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2 ] Lêi khai nhËn téi cña bÞ c¸o t¹i phiªn toµ phï hîp víi lêi khai t¹i C¬ quan điÒu tra, phï hîp víi lời khai của những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan cïng c¸c tµi liÖu kh¸c cã trong hå s¬ vô ¸n. V× vËy cã ®ñ c¬ së kÕt luËn:
Tháng 01/2010 (âm lịch), Tàng Văn Đ đã 01 lần tổ chức đưa Lục Văn H, sinh năm 1987 ở thôn P, xã T, huyện L, tỉnh Bắc Giang cùng 14 người lao động trên địa bàn huyện L, tỉnh Bắc Giang vượt biên trái phép sang Trung Quốc lao động bất hợp pháp.
Như vËy, hµnh vi của Tàng Văn Đ ®· ®ñ yÕu tè cÊu thµnh téi “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài” ®ưîc quy ®Þnh t¹i khoản 1 ®iÒu 275 Bé luËt h×nh sù năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009.
Hµnh vi ph¹m téi cña bÞ c¸o lµ nguy hiÓm cho x· héi, xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính trong lĩnh vực xuất nhập cảnh do Nhà nước thống nhất quản lý, gây mất trật tự an toàn xã hội, ảnh hưởng đến công tác đối ngoại của Nhà nước, đe dọa đến an ninh quốc gia. Do vậy cần áp dụng hình phạt thỏa đáng, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã gây ra.
Xét về nhân thân, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo thì thấy:
Về nhân thân: Bị cáo là người có nhân thân tốt.
Về tình tiết tặng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
Về t×nh tiÕt gi¶m nhÑ tr¸ch nhiÖm h×nh sù cña bÞ c¸o th× thÊy: Trong qu¸ tr×nh ®iÒu tra còng nh t¹i phiªn toµ, bÞ c¸o thµnh khÈn khai b¸o, ¨n n¨n hèi cải nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự; Sau khi bị phát hiện đã ra đầu thú nên được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại kho¶n 2 §iÒu 51 Bộ luật hình sự. Xét bị cáo là dân tộc thiểu số, sống ở vùng có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn nên thiếu hiểu biết, phạm tội không vì mục đích trục lợi. Qúa trình điều tra giai đoạn trước bị cáo không biết bản thân bị khởi tố, truy nã. Khi biết bị cáo vẫn ở bên Trung Quốc và bị tai nạn nên không về ngay được. Khi về được Việt Nam, bị cáo đã đến cơ quan An ninh điều tra để đầu thú về hành vi phạm tội. Hội đồng xét xử xét chưa cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội nên áp dụng điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo về cải tạo giáo dục tại địa phương cũng đảm bảo giúp bị cáo trở thành công dân tốt và đảm bảo tính răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
Đối với 14 lao động được bị cáo đưa vượt biên trái phép sang Trung Quốc lao động bất hợp pháp, Cơ quan An ninh điều tra Công an tỉnh Bắc Giang đã đề nghị xử lý trong vụ án “Phan Văn C và đồng phạm, tổ chức người khác trốn đi nước ngoài” nên Hội đồng xét xử không xử lý trong vụ án này.
Về án phí: Bị cáo là dân tộc thiểu số sống ở xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn nên được miễn án phí HSST.
Vì các lẽ trên,
QuyÕt ®Þnh:
Căn cứ vào kho¶n 1 §iÒu 275 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi bổ sung năm 2009; điểm s kho¶n 1, 2 §iÒu 51; §iÒu 65 Bé luËt h×nh sù năm 2015.
Tuyªn bè bÞ c¸o Tàng Văn Đ ph¹m téi “Tổ chức người khác trốn đi nước ngoài.
Xö ph¹t: Tàng Văn Đ 03 ( ba ) năm tï nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 05 ( năm năm ) tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Tàng Văn Đ về UBND xã P, huyện L, tỉnh Bắc Giang giám sát giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.
* Hậu quả của việc vi phạm nghĩa vụ trong thời gian thử thách:
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
* ¸n phÝ: áp dụng Điểm đ §iÒu 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Miễn án phí hình sự sơ thẩm cho bị cáo Tàng Văn Đ.
B¸o cho bÞ c¸o biÕt ®ưîc quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy tuyªn ¸n. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan v¾ng mÆt biÕt ®ưîc quyÒn kh¸ng c¸o trong thêi h¹n 15 ngµy kÓ tõ ngµy nhËn tèng ®¹t ¸n.
N¬i nhËn:
T. M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
- VKSND huyÖn L;
| - C«ng an huyÖn Lôc N; - TAND TØnh B¾c Giang; - THADS huyÖn L; - BÞ c¸o; - Người liên quan; - Lưu hå sơ, v¨n phßng. | Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa Lương Thị Ngọc Hà |