- Tranh chấp gì? án hình sự — "HUỲNH DUY T - phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản (điều 178 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Huỳnh Duy T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ TỈNH ĐĂK NÔNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2020/HS-ST Ngày: 09/11/2020 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KRÔNG NÔ
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Thị Tím.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phạm Đình Bông; Ông Nguyễn Quang Châu
- Thư ký phiên tòa: Bà Nông Thị Hường – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Krông Nô.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô tham gia phiên toà: Ông Nông Quốc Hùng – Kiểm sát viên.
Trong ngày 09 tháng 11 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Krông Nô, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 44/2020/HS-ST ngày 05 tháng 10 năm 2020, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 39a/2020/ QĐXXST-HS ngày 28 tháng 10 năm 2020 đối với bị cáo:
Huỳnh Duy T (tên gọi khác: U), sinh năm 1980; nơi sinh: tỉnh Đăk Lăk; nơi đăng ký HKTT và chỗ ở: Thôn Th, xã Đ, huyện K, tỉnh Đăk Nông; nghề nghiệp: làm nông; trình độ học vấn: 3/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huỳnh H và bà Trần Thị Â (đều đã chết); có vợ là Phạm Thị Minh Th và 02 con; bị cáo bị cấm đi khỏi nơi cư trú theo Lệnh cấm đi khỏi nơi cư trú số 70/2020/TCCT – TA, ngày 05/10/2020 - Có mặt.
Bị hại: Anh Lương Văn C; sinh năm 1997. Vắng mặt
Địa chỉ: Thôn S, xã X, huyện K, Đăk Nông.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
Chị Lang Thị T, sinh năm 1979; địa chỉ: Thôn S, xã X, huyện K, Đăk Nông. Có mặt
Anh Huỳnh Tấn T, sinh năm 1995; địa chỉ: Thôn Tr, xã Đ, huyện K, Đăk Nông. Vắng mặt
Anh Nguyễn Quang Gi, sinh năm 2000; địa chỉ: Thôn Th, xã Đ, huyện K, Đăk Nông. Vắng mặt
Người làm chứng:
Ông Trần Văn M, sinh năm 1969; địa chỉ: Thôn Th, xã Đ, huyện K, Đăk Nông. Vắng mặt
Anh Lương Quang T, sinh năm 1992; địa chỉ: Thôn X, xã X, huyện K, Đăk Nông. Vắng mặt
Anh Lương Quốc C, sinh năm 1997; địa chỉ: Thôn Đăk X, xã X, huyện K, Đăk Nông. Vắng mặt
Anh Lữ Văn Th, sinh năm 1987; địa chỉ: Thôn H, xã P, huyện C, Đăk Nông. Vắng mặt
Chị H’ Ê, sinh năm 1978; địa chỉ: Buôn K, xã S, huyện K, Đăk Lăk. Vắng mặt
Anh Nguyễn Văn H, sinh năm 1991; địa chỉ: Thôn Nam T, xã Đ, huyện K, Đăk Nông. Vắng mặt
Anh Trần Hữu Ch, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn H, xã Đ, huyện K, Đăk Nông. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ ngày 02/5/2020 sau khi đi dự sinh nhật của anh trai, Huỳnh Tấn T chở bạn là Đặng Công T, Nguyễn Văn H đi về nhà T để lấy xe máy, sau khi lấy được xe thì T, T, H mỗi người chạy một xe đến quán cà phê Huyền Diệu tại thôn Th, xã Đ, huyện K, tại đây đã xảy ra xô sát đánh nhau giữa Huỳnh Tấn T và Nguyễn Quang Gi. Hậu quả anh Gi bị thương tích ở đầu và được mọi người đưa đến Bệnh viện đa khoa huyện K để điều trị. Lúc này Huỳnh Duy T đang uống rượu ở gần nhà anh G thấy đông người thì T qua xem thì được biết anh Gi bị T đánh. Khi T ra về thị gặp anh T nên đứng nói chuyện, do trước đó T có gọi điện cho bạn là Lương Quang T và nói với T là bị đánh trước quán cà phê Huyền Diệu nhờ T đến giúp. Lúc này Lương Quang T đang đi với nhóm bạn nên nói với Lương Văn C điều khiển xe ô tô biển kiểm soát 48A – 094.90 (chủ xe là bà Lang Thị T mẹ của C) chở T đến quán cà phê Huyển Diệu, trên xe lúc này có Lương Quốc C, Lữ Văn Th, H’ Ê và Đặng Ngọc Á. Khi tới nơi nhóm của Lương Quang T đuổi đánh Huỳnh Duy T, bị đánh nên Huỳnh Duy T bỏ chạy và có gọi điện cho anh Trần Hữu Ch nhờ anh Ch lên giải cứu. Khoảng 15 phút sau thì Huỳnh Duy T thấy một nhóm người khác đuổi đánh nhóm của Lương Quang T. Do bực tức vì bị nhóm người đi trên xe ô tô đánh nên Huỳnh Duy T cầm một cái cuốc nhặt được ở nhà dân gần quán cà phê Huyền Diệu đi đến chỗ xe ô tô biển kiểm soát 48A – 094.40 đập bể toàn bộ kính sau của xe, phần lưỡi cuốc rơi ra văng vào trong xe, phần cán cuốc T ném đi.
Tại Bản kết luận giám định pháp y số 584/TGt – TTPY, ngày 01/6/2020 của Trung tâm pháp y tỉnh Đăk Lăk kết luận: Tỷ lệ tổn thương cơ thể do thương tích gây nên cho anh Nguyễn Quang Gi là 02%.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 19/KL – HĐĐG của Hội đồng định giá và bán đấu giá tài sản huyện Krông Nô kết luận: Giá trị thiệt hại tại thời điểm ngày 02/5/2020 là 5.500.000 đồng, trong đó: 05 vết lõm, trầy xước hoặc bong tróc sơn phí gò và sơn lại là 2.500.000 đồng; 01 tấm kính sau xe bị vỡ hoàn toàn, chi phí thay lại là 3.000.000 đồng.
Tại Bản kết luận giám định số 61/KLMT – PC09 của Phòng kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Đăk Nông, kết luận: Tinh thể màu trắng là ma túy, là Methaphethamine, có khối lượng 0,4613 gam.
Quá trình điều tra cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô thu giữ:
- 01 xe ô tô biển kiểm soát: 48A – 094.40, nhẫn hiệu HUYNDAI GRAIND i 10 màu trắng; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự 0001243055; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 2481799; 01 hợp đồng tín dụng số 01 – REF2007000151/HĐTD/DLA – LTT giữa Ngân hàng TMCP Đông Nam Á – chi nhánh Đăk Lăk với bà Lang Thị T;
- 01 chứng minh nhân dân mang tên Lương Văn C; 01 điện thoại di động OPPO màu xám đen; 01 điện thoại di động NOKIA màu đen;
- 01 lưỡi cuốc kích thước 34 x 13,5cm; 01 khúc gỗ dài 80cm, đường kính to nhất 08cm, đường kính nhỏ nhất 05cm; 01 khúc gỗ dài 71cm, đường kính to nhất 10cm, đường kính nhỏ nhât 09cm; 01 khúc gỗ dài 1m08, đường kính to nhất 08cm, đường kính nhỏ nhất 06cm;
- 01 hộp đạn pháo có 08 băng đạn, mỗi băng đạn có vỏ bên ngoài bằng nhựa màu đỏ, hình tròn có 08 vị trí chứa chất nghi thuốc nổ;
- 0,3313 gam chất ma túy sau giám định.
Cáo trạng số: 44/CT-VKS ngày 02/10/2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã truy tố bị cáo Huỳnh Duy T về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như nội dung bản Cáo trạng
của Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô đã truy tố.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô thực hành quyền công tố luận tội và tranh luận, đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Huỳnh Duy T phạm tội "Cố ý làm hư hỏng tài sản".
Áp dụng: Khoản 1 Điều 178, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 65
của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Duy T từ 09 đến 12 tháng tù, nhưng được hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Huỳnh Duy T cho UBND xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách.
Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT công an huyện Krông Nô đã trả lại:
- 01 (Một) xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, loại GRAND I10, màu trắng, biển kiểm soát: 48A-094.4001; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự 0001243055; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 2481799; 01 hợp đồng tín dụng số 01 – REF2007000151/HĐTD/DLA – LTT giữa Ngân hàng TMCP Đông Nam Á – chi nhánh Đăk Lăk với bà Lang Thị T cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Lang Thị T.
- 01 chứng minh nhân dân mang tên Lương Văn C; 01 điện thoại di động OPPO màu xám đen; 01 điện thoại di động NOKIA màu đen cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lương Văn C.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự , khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy một lưỡi cuốc có kích thước 34 x 13,5cm.
Tiếp tục tạm giữ đối với 03 khúc gỗ, trong đó 01 khúc gỗ dài 80cm, đường kính to nhất 08cm, đường kính nhỏ nhất 05cm; 01 khúc gỗ dài 71cm, đường kính to nhất 10cm, đường kính nhỏ nhât 09cm; 01 khúc gỗ dài 1m08, đường kính to nhất 08cm, đường kính nhỏ nhất 06cm; 01 hộp đạn pháo có 08 băng đạn, mỗi băng đạn có vỏ bên ngoài bằng nhựa màu đỏ, hình tròn có 08 vị trí chứa chất nghi thuốc nổ; 0,3313 gam chất ma túy sau giám định để tiếp tục điều tra đối với các hành vi khác chưa được làm rõ.
- Về trách nhiệm dân sự: Do bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại là anh Lương Văn C và anh C không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
Bị cáo không có ý kiến tranh luận chỉ đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm
nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được
tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
. Về hành vi, quyết định của Cơ quan điều tra Công an huyện Krông Nô, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
. Đối với hành vi mà bị cáo đã thực hiện Hội đồng xét xử thấy rằng: Do có mâu thuẫn về việc xô sát đánh nhau trước đó nên vào khoảng 22 giờ 30 phút ngày 02/5/2020 tại Thôn Th, xã Đ, huyện K, Huỳnh Duy T đã dùng cuốc đập bể hoàn toàn kính sau xe ô tô biển kiểm soát: 48A-094.40, nhãn hiệu HUYNDAI, loại GRAND I10, màu trắng của bà Lang Thị T gây thiệt hại 3.000.000 đồng. Như vậy, với hành vi mà bị cáo đã thực hiện, giá trị tài sản mà bị cáo làm hư hỏng, bị cáo đã bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Krông Nô truy tố về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản” theo khoản 1 Điều 178 của Bộ luật hình sự là có căn cứ và đúng pháp luật, không oan.
Điều 178 của Bộ luật hình sự quy định:
“1. Người nào hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:”
. Xét tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi phạm do hành vi phạm tội của bị cáo đã gây ra:
3.1. Bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và khả năng nhận thức được hành vi, biết hành vi mà mình thực hiện là vi phạm pháp luật nhưng vẫn vẫn cố ý thực hiện.
3.2. Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến quyền về tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ. Do đó, Hội đồng xét xử thấy rằng để giáo dục, cải tạo bị cáo cần phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng với hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện đủ để răn đe, giáo dục, và cũng nhằm mục đích phòng ngừa chung trong xã hội .
3.3. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong giai đoạn điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải đối với hành vi phạm tội của mình; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại, bị hại đã có đơn xin bãi nại cho bị cáo. Do đó, Hội đồng xét xử có căn cứ để áp dụng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự để xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo thể hiện tính nhân đạo của pháp luật. Bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, cụ thể, có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù thì không ảnh hưởng xấu đến công tác đấu tranh, phòng, chống tội phạm. Xét thấy không cần bắt bị cáo chấp hành hình phạt tù, vì vậy cần áp dụng khoản 1, khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự cho bị cáo được hưởng án treo. Giao bị cáo cho chính quyền địa phương và gia đình bị cáo phối hợp giám sát, giáo dục, thể hiện chính sách khoan hồng và nhân đạo của pháp luật.
. Đối với thương tích của anh Nguyễn Quang Gi do hành vi của Huỳnh Tấn T gây ra. Do anh Gi tự nguyện rút yêu cầu khởi tố nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô không khởi tố đối với T mà ra quyết định xử phạt vi phạm hành chính là có căn cứ, đúng pháp luật nên cần chấp nhận.
. Đối với hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, đã hết thời hạn điều tra nhưng chưa xác định được đối tượng. Vì vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô quyết định tách vụ án để tiếp tục điều tra khi có cơ sở sẽ xử lý sau. Đồng thời trong quá trình xô xát Huỳnh Tấn T có sử dụng súng pháo bắn xuống đất làm phát sáng và gây tiếng nổ, sau khi sự việc xảy ra T đã giao nộp hộp đạn cho Công an huyện Krông Nô. Còn súng T đưa cho Đặng Công T. Đặng Công T có sử dụng roi điện và bình xịt hơi cay, tuy nhiên hiện nay T không có mặt tại địa phương nên chưa có đủ căn cứ để xử lý đối với T và T. Vì vậy Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô sẽ tiếp tục điều tra làm rõ.
. Đối với thiệt hại là 05 (năm) vết lõm, trầy, xước hoặc bong tróc sơn của chiếc xe biển kiểm soát 48A-094.40, do chưa xác định được đối tượng gây ra nên Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Krông Nô sẽ tiếp tục điều tra. Sau này có căn cứ sẽ xử lý sau.
. Về trách nhiệm dân sự: Do bị cáo đã bồi thường toàn bộ thiệt hại cho bị hại là anh Lương Văn C và anh C không yêu cầu bồi thường gì thêm nên không xem xét giải quyết.
. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT công an huyện Krông Nô đã trả lại:
- 01 (Một) xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, loại GRAND I10, màu trắng, biển kiểm soát: 48A-094.4001; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự 0001243055; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 2481799; 01 hợp đồng tín dụng số 01 – REF2007000151/HĐTD/DLA – LTT giữa Ngân hàng TMCP Đông Nam Á – chi nhánh Đăk Lăk với bà Lang Thị T cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Lang Thị T.
- 01 chứng minh nhân dân mang tên Lương Văn C; 01 điện thoại di động OPPO màu xám đen; 01 điện thoại di động NOKIA màu đen cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lương Văn C.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy một lưỡi cuốc có kích thước 34 x 13,5cm.
Tiếp tục tạm giữ đối với 03 khúc gỗ, trong đó 01 khúc gỗ dài 80cm, đường kính to nhất 08cm, đường kính nhỏ nhất 05cm; 01 khúc gỗ dài 71cm, đường kính to nhất 10cm, đường kính nhỏ nhât 09cm; 01 khúc gỗ dài 1m08, đường kính to nhất 08cm, đường kính nhỏ nhất 06cm; 01 hộp đạn pháo có 08 băng đạn, mỗi băng đạn có vỏ bên ngoài bằng nhựa màu đỏ, hình tròn có 08 vị trí chứa chất nghi thuốc nổ; 0,3313 gam chất ma túy sau giám định để tiếp tục điều tra đối với các hành vi khác chưa được làm rõ.
. Về án phí: Bị cáo Huỳnh Duy T phải nộp án phí hình sự sơ thẩm sơ thẩm theo quy định tại Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên:
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo Huỳnh Duy T phạm tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”.
Áp dụng: Khoản 1 Điều 178, các điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Huỳnh Duy T 09 (chín) tháng tù nhưng được hưởng án treo, thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Giao bị cáo Huỳnh Duy T cho UBND xã Đ, huyện K, tỉnh Đắk Nông để giám sát và giáo dục bị cáo trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với cơ quan, tổ chức, chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo. Trong trường hợp bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại khoản 1 Điều 69 Luật thi hành án hình sự.
Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự, điểm b khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự đề nghị Hội đồng xét xử: Chấp nhận việc Cơ quan CSĐT công an huyện Krông Nô đã trả lại:
- 01 (Một) xe ô tô nhãn hiệu HUYNDAI, loại GRAND I10, màu trắng, biển kiểm soát: 48A-094.4001; 01 giấy chứng nhận bảo hiểm bắt buộc trách nhiệm dân sự 0001243055; 01 giấy chứng nhận kiểm định số 2481799; 01 hợp đồng tín dụng số 01 – REF2007000151/HĐTD/DLA – LTT giữa Ngân hàng TMCP Đông Nam Á – chi nhánh Đăk Lăk với bà Lang Thị T cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Lang Thị T.
- 01 chứng minh nhân dân mang tên Lương Văn C; 01 điện thoại di động OPPO màu xám đen; 01 điện thoại di động NOKIA màu đen cho chủ sở hữu hợp pháp là anh Lương Văn C.
Căn cứ khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự. Tịch thu tiêu hủy một lưỡi cuốc có kích thước 34 x 13,5cm.
Tiếp tục tạm giữ đối với 03 khúc gỗ, trong đó 01 khúc gỗ dài 80cm, đường kính to nhất 08cm, đường kính nhỏ nhất 05cm; 01 khúc gỗ dài 71cm, đường kính to nhất 10cm, đường kính nhỏ nhât 09cm; 01 khúc gỗ dài 1m08, đường kính to nhất 08cm, đường kính nhỏ nhất 06cm; 01 hộp đạn pháo có 08 băng đạn, mỗi băng đạn có vỏ bên ngoài bằng nhựa màu đỏ, hình tròn có 08 vị trí chứa chất nghi thuốc nổ; 0,3313 gam chất ma túy sau giám định để tiếp tục điều tra đối với các hành vi khác chưa được làm rõ.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng Hình sự; áp dụng các điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30.12.2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí toà án.
Buộc bị cáo Huỳnh Duy T Tuấn phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
4. Về quyền kháng cáo: Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được tống đạt hợp lệ bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Đăk Nông; - VKSND tỉnh Đăk Nông; - VKSND huyện Krông Nô; - Sở tư pháp tỉnh Đăk Nông; - Bộ phận HSNVCS-CA huyện Krông Nô; - Cơ quan THAHS-CA huyện Krông Nô; - Chi cục THADS huyện Krông Nô; - Bị cáo; - Người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa (Đã ký) Lê Thị Tím |