vanban.org

Bản án 40/2020/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Đăk Đoa, tỉnh Gia Lai Tuyên án 01/12/2020 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai để xét xử các bị can Dên, Quy, Lương và DJõng, có lý lịch nêu trên về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; bị can Hlip, có lý lịch nêu trên về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác …

Kèm theo Cáo trạng có: Hồ sơ vụ án gồm có: 01 tập, được đánh số từ 01 đến 284. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "KHŨI CÙNG ĐỒNG BỌN - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai để xét xử các bị can Dên, Quy, Lương và DJõng, có lý lịch nêu trên về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; bị can Hlip, có lý lịch nêu trên về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác …
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN ĐAK ĐOA
TỈNH GIA LAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2020/HS-ST
Ngày: 01/12/2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐAK ĐOA, TỈNH GIA LAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoài Thơ.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Do;

Bà Nguyễn Thị Chín.

- Thư ký phiên toà: Bà Võ Thị Mỹ Vương.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Kỳ - Kiểm sát viên.

Ngày 01 tháng 12 năm 2020 tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 37/2020/TLST-HS ngày 16 tháng 10 năm 2020 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 59/2020/QĐXXST-HS ngày 16 tháng 11 năm 2020 đối với các bị cáo:

1. Khũi; sinh ngày 04/02/1997 tại Gia Lai; nơi cư trú: Thôn Piơm, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Ba Na; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Huân và bà Khát. Bị cáo sống chung như vợ chồng với chị H’Pẽo (sinh năm 1998) và có một người con sinh năm 2019; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 26/7/2017, bị Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai xử phạt 12 tháng tù về tội “Giao cấu với trẻ em” tại Bản án số 25/2017/HSST (đã được xóa án tích). Ngày 01/5/2020, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đến ngày 23/6/2020, bị giữ người trong trường hợp khẩn cấp, bị tạm giữ sau đó chuyển tạm giam cho đến nay tại Nhà tạm giữ Công an huyện Đak Đoa. Có mặt tại phiên tòa.

2. H’Nuên; tên gọi khác: Ke; sinh năm 1997 tại Gia Lai; nơi cư trú: Thôn 1, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Ba Na; giới tính: Nam; tôn giáo: Thiên chúa giáo; quốc tịch: Việt Nam; Con ông H’Nơng và bà H’Nang. Bị cáo có vợ là H’Yun và có một người con, sinh năm 2016; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 01/5/2020, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đến ngày 10/9/2020, bị khởi tố và áp dụng biện pháp Cấm đi khởi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

3. AYưm; tên gọi khác: Ne; sinh năm 1997 tại Gia Lai; nơi cư trú: Thôn 1, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: Không đi học; dân tộc: Ba Na; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: A Yẽk và bà: KLãng; bị cáo sống chung như vợ chồng với chị ANa (sinh năm 1994), có hai người con chung, sinh năm 2016 và năm 2019 ; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 01/5/2020, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đến ngày 10/9/2020, bị khởi tố và áp dụng biện pháp Cấm đi khởi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

4. Thên; sinh ngày 10/01/2002 tại Gia Lai; nơi cư trú: Thôn 1, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 4/12; dân tộc: Ba Na; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Tĩnh và bà Lữa; bị cáo chưa có vợ, con; tiền án: Không; tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 01/5/2020, thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, đến ngày 10/9/2020, bị khởi tố và áp dụng biện pháp Cấm đi khởi nơi cư trú. Hiện bị cáo đang tại ngoại. Có mặt tại phiên tòa.

- Người bào chữa cho các bị cáo Khũi, H’Nuên, AYưm, Thên: Luật sư Huỳnh Văn Kiên - Luật sư thực hiện trợ giúp pháp lý của Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Gia Lai. Có mặt.

- Bị hại: Ông Nguyễn Tiến Dũng, sinh năm 1970. Trú tại: Tổ dân phố 7, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

Anh Thăn, sinh năm 1993. Trú tại: Thôn Pi Ơm, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Anh Ngô Thanh Hảo, sinh năm 1995. Trú tại: Thôn 4, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Bà Nguyễn Thị Lợi, sinh năm 1967. Trú tại: Tổ dân phố 6, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

Anh Phin, sinh năm 2000. Trú tại: Thôn Pi Ơm, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Anh Sư, sinh năm 1984. Trú tại: Thôn Pi Ơm, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

Bà Khát, sinh năm 1974. Trú tại: Thôn Pi Ơm, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Vắng mặt.

- Người phiên dịch: Ông Jil – Trú tại: Thôn Kloch, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Có mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào buổi trưa ngày 01/5/2020, Khũi từ nhà đi đến Thôn 1, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai thì phát hiện trong khuôn viên nhà kho của anh Nguyễn Tiến Dũng (sinh năm 1970, trú tại Tổ dân phố 7, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa) tại Thôn 1, thị trấn Đak Đoa có trồng 01 cây Mai (cao 03 mét và hoành gốc 65cm) nên nảy sinh ý định trộm cắp. Khũi đi đến nhà nói với anh Thăn (sinh năm 1993, trú tại thôn Piơm, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai) “Cho em mượn điện thoại chút xíu”, nghĩ là Khũi mượn điện thoại để chơi điện tử nên anh Thăn đồng ý và nói “Điện thoại trong phòng ngủ”. Khũi vào lấy chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung J5 của anh Thăn đi đến chụp ảnh cây Mai của anh Dũng rồi lên trang Facebook liên lạc với Ngô Thanh Hảo (tên gọi khác: Xỉu - sinh năm 1995, trú tại Thôn 4, thị trấn Đak Đoa) để nhờ hỏi xem có ai mua cây Mai hay không. Lúc này, Hảo đang ở nhà cô ruột tên là Nguyễn Thị Lợi (sinh năm 1967) tại Tổ dân phố 6, thị trấn Đak Đoa nên Hảo hỏi bà Lợi có mua cây Mai này hay không. Bà Lợi đồng ý mua với giá 6.000.000 đồng với điều kiện bà phải trực tiếp cùng đi để đào và bó bầu cây Mai này nhưng Khũi không đồng ý.

Đến khoảng 23 giờ cùng ngày, Khũi một mình mang theo 01 chiếc xà beng và 01 cây cuốc đi đến nhà kho của anh Dũng để đào trộm cây Mai. Trên đường đi, Khũi gặp Suưm đang đứng chơi trên đường tại Thôn 1, thị trấn Đak Đoa. Suưm hỏi Khũi đi đâu mà mang theo xà beng và cuốc thì Khũi nói đi đào trộm cây Mai nên Suưm đồng ý đi cùng. Cả hai đi đến nhà kho của anh Dũng rồi trèo qua cửa cổng để đi vào trong đào trộm cây Mai. Khoảng 01 tiếng đồng hồ sau thì đào xong nhưng do cây Mai nặng nên Khũi dùng xà beng đi ra phá ổ khóa của cổng rồi đi bộ đến nhà của HNuên (cách nhà kho của anh Dũng khoảng 100 mét) để tìm người khiêng giúp. Khi đến nới, nhìn thấy HNuên, AYưm và Thên đang ngồi uống rượu, Khũi xin nước uống rồi nhờ tất cả đi khiêng giúp cây Mai. Khi đi đến nhà kho của anh Dũng, nhìn thấy cửa cổng nhà kho bị phá khóa và không có người trông coi thì HNuên, AYưm và Thên biết là Khũi và Suưm đào trộm cây Mai nhưng không nói gì mà vẫn khiêng giúp cây Mai ra để sát lề đường phía trước nhà kho. Khũi đi về nhà để lấy xe công nông đến chở cây Mai (xe do Khũi đã mượn trước đó và đang để tại nhà Khũi), còn HNuên, AYưm, Thên và Suưm tiếp tục về nhà HNuên uống rượu. Khi Khũi điều khiển xe công nông đến thì HNuên, AYưm, Thên và Suưm cùng đi đến và khiêng cây Mai bỏ lên thùng xe. Lúc này, Khũi hứa sẽ cho HNuên, AYưm và Thên số tiền 200.000 đồng, 01 thùng bia và 02 gói thuốc lá, đồng thời nói AYưm điều khiển xe công nông chở cây Mai về nhà Khũi cất giấu.

Đến trưa ngày 02/5/2020, Khũi tiếp tục gọi điện cho Ngô Thanh Hảo nói cây Mai đang để ở nhà Khũi và nói Hảo đến xem, nếu thỏa thuận được thì sẽ bán. Hảo đi đến chở bà Nguyễn Thị Lợi đến nhà của Khũi để xem cây Mai nói trên. Khi đến nơi, bà Lợi thấy cây Mai đã được đào gốc nhưng không được bó bầu và Khũi nói bán cây Mai với số tiền 5.000.000 đồng nên bà Lợi không mua vì sợ cây chết. Đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Khũi gọi điện thoại cho Ngô Thanh Hảo nói đồng ý bán cây Mai này cho bà Lợi với số tiền 3.500.000 đồng, công thêm 200.000 đồng tiền chở và trồng cây Mai tại nhà bà Lợi. Lúc này có anh Phin (sinh năm 2000, trú tại thôn Piơm, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa) đến chơi nên Khũi nhờ Phin cùng khiêng cây Mai lên xe công nông và chở đến nhà trồng cho bà Lợi. Sau khi nhận tiền, Khũi đưa cho Ngô Thanh Hảo 200.000 đồng và cho Phin 100.000 đồng, số còn lại Khũi đã tiêu xài cá nhân hết. Đến ngày 23/6/2020, hành vi phạm tội nêu trên của Khũi bị phát hiện và Khũi đã bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa lập biên bản Giữ người trong trường hợp khẩn cấp để điều tra, xử lý. Bà Nguyễn Thị Lợi đã giao nộp 01 cây Mai cao 03 mét và hoành gốc 65cm; bà Khát (là mẹ của Khũi) giao nộp 01 cây xà beng kích thước (4 x 98)cm và 01 cây cuốc có cán bằng gỗ dài 82cm, lưỡi bằng sắt kích thước (20 x 25)cm.

Tại Bản kết luận định giá tài sản số 88 ngày 30/6/2020 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đak Đoa kết luận: 01 cây Mai, chiều cao của thân cây tính từ gốc là 03m, đường kính vành gốc 0,65m có trị giá là 20.000.000 đồng.

Qua điều tra xác định cây Mai cao 03 mét và hoành gốc 65cm do bà Nguyễn Thị Lợi giao nộp là tài sản của anh Nguyễn Tiến Dũng bị các bị cáo chiếm đoạt nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa đã trả lại cho anh Dũng.

Đối với 01 cây xà beng kích thước (4 x 98)cm và 01 cây cuốc có cán bằng gỗ dài 82cm, lưỡi bằng sắt kích thước (20 x 25)cm do bà Khát giao nộp là tài sản của gia đình bà Khát. Việc Khũi sử dụng những tài sản này làm công cụ để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, gia đình bà Khát hoàn toàn không biết nên không có căn cứ để xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa đã trả lại các tài sản này cho bà Khát là hoàn toàn có căn cứ.

Đối với 01 xe công nông mà bị cáo Khũi đã sử dụng để chở cây Mai sau khi trộm cắp, qua điều tra xác định chiếc xe này là của gia đình anh Sư (sinh năm 1984) trú tại thôn Piơm, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa và có quan hệ họ hành với gia đình bị cáo Khũi. Việc bị cáo Khũi mượn chiếc xe này để sử dụng, sau đó làm phương tiện đi chở cây Mai do trộm cắp mà có gia đình anh Sư không biết nên không có căn cứ để thu giữ và xử lý.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung J5 mà bị cáo Khũi đã sử dụng để chụp ảnh cây Mai và nhờ tìm người mua trước khi thực hiện hành vi trộm cắp, qua điều tra xác định đây là tài sản của anh Thăn. Tuy nhiên, khi cho mượn điện thoại, anh Thăn không biết mục đích của Khũi sử dụng vào việc trộm cắp tài sản nên không có căn cứ để thu giữ và xử lý.

Đối với chiếc điện thoại di động Khũi sử dụng làm phương tiện liên lạc trong việc bán cây Mai sau khi trộm cắp, qua điều tra xác định là điện thoại di động của Khũi. Tuy nhiên, sau đó trong lúc đi chơi bị cáo đã làm mất chiếc điện thoại này nên không thu giữ được để xử lý.

- Về dân sự: Người bị hại là anh Nguyễn Tiến Dũng đã nhận lại tài sản trộm cắp là cây Mai. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Lợi đã nhận bồi thường thiệt hại của bị cáo Khũi với số tiền là 3.700.000 đồng. Anh Dũng và bà Lợi không có yêu cầu gì thêm về việc bồi thường.

Tại bản Cáo trạng số: 35/CT-VKS ngày 15 tháng 10 năm 2020 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai truy tố bị cáo Khũi và đồng bọn về tội “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự. Tại phiên toà, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố đối với Khũi và đồng bọn và đề nghị Hội đồng xét xử:

Về hình sự:

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Khũi;

Đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật Hình sự; Nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP ngày 15/5/2018 hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo đối với bị cáo HNuên, Thên và AYưm;

Xử phạt bị cáo Khũi từ 12 (mười hai) tháng đến 15 (mười lăm) tháng tù.

Xử phạt bị cáo HNuên, Thên và AYưm từ 09 (chín) tháng đến 12 (mười hai) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 (mười tám) tháng đến 24 (hai mươi bốn) tháng.

Về án phí hình sự: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Người bào chữa cho các bị cáo Khũi, HNuên, Thên và AYưm thống nhất cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa về tội danh, điều luật áp dụng và khung hình phạt đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử xem xét về nhân thân các bị cáo HNuên, Thên và AYưm, các bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, các bị cáo nghe theo sự xúi giục của bị cáo Khũi trong lúc uống rượu say, các bị cáo không có ý thức chiếm đoạt tài sản của người khác, tham gia với vai trò giúp sức. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng hình phạt đối với: Bị cáo Khũi dưới 12 (mười hai) tháng tù; bị cáo HNuên, Thên và AYưm theo mức đề nghị của đại diện Viện kiểm sát cũng đủ tính chất răn đe, giáo dục đối với các bị cáo.

Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo nhất trí với quyết định truy tố của Viện kiểm sát. Các bị cáo không có ý kiến gì đối với bản luận tội của Viện kiểm sát và bản luận cứ của người bào chữa.

Các bị cáo nói lời nói sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào nghị án.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự; quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.

[2] Về hành vi phạm tội của các bị cáo: Khoảng 23 giờ ngày 01/5/2020, Khũi, Suưm, HNuên, AYưm và Thên đã thực hiện hành vi trộm cắp 01 cây Mai trị giá 20.000.000 đồng của anh Nguyễn Tiến Dũng tại thôn 1, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa. Đến ngày 23/6/2020, hành vi phạm tội trộm cắp tài sản nêu trên của Khũi cùng đồng phạm đã bị phát hiện.

Như vậy, hành vi trộm cắp tài sản của các bị cáo Khũi, Suưm, HNuên, AYưm và Thên đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa đã truy tố là đúng người, đúng tội và đúng pháp luật. Do vậy, các bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi phạm tội của mình.

[3] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

- Về nhân thân và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo Khũi có nhân thân xấu, bị cáo bị Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai xử phạt 12 tháng tù về tội “Giao cấu với trẻ em” tại Bản án số 25/2017/HSST ngày 26/7/2017 (đã được xóa án tích).

Các bị cáo HNuên, AYưm và Thên có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, các bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số nhận thức pháp luật còn hạn chế. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo HNuên, AYưm và Thên được quy định tại điểm i khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Bị cáo Khũi đã tác động gia đình bồi thường thiệt hại cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan là bà Nguyễn Thị Lợi. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo Khũi được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Các bị cáo Khũi, HNuên, AYưm và Thên trong quá trình điều tra các bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hình vi phạm tội của mình. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị cáo Khũi, HNuên, AYưm và Thên được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[4] Về hình phạt:

Bị cáo Khũi là người rủ rê khởi sướng, quá trình phạm tội rất tích cực nên phải chịu trách nhiệm chính, do vậy phải chịu mức hình phạt cao hơn bị cáo HNuên, AYưm và Thên cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mới đủ tính chất răn đe, phòng ngừa chung cho xã hội.

Đối với bị cáo HNuên, AYưm và Thên là đồng phạm trực tiếp thực hiện hành vi phạm tội với vai trò giúp sức. Vì vậy bị cáo HNuên, AYưm và Thên phải nhận mức án tương xứng với hành vi, vai trò của mình.

Qua xem xét quy định tại Điều 65 của Bộ luật Hình sự về án treo, Hội đồng xét xử thấy rằng: các bị cáo HNuên, AYưm và Thên có nhân thân tốt, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, trước khi phạm tội luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, không vi phạm các điều mà pháp luật cấm. Các bị cáo HNuên, AYưm và Thên có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng nên không cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà giao cho chính quyền địa phương giám sát, giáo dục cũng đủ tác dụng răn đe, giáo dục đối với các bị cáo. Do vậy, cần áp dụng Điều 65 Bộ luật Hình sự cho các bị cáo HNuên, AYưm và Thên được hưởng án treo để tạo điều kiện cho các bị cáo được rèn luyện bản thân thành công dân có ích cho xã hội và thể hiện sự khoan hồng của pháp luật.

Đối với bị can Suưm, sau khi thực hiện hành vi phạm tội đã bỏ đi khỏi địa phương và hiện không xác định nơi cư trú. Sau khi khởi tố, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai đã ra Lệnh truy nã nhưng đến nay chưa bắt được bị can để xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa đã tách vụ án đối với bị can và tạm đình chỉ, khi nào bắt được bị can sẽ xử lý theo quy định là có cơ sở.

Đối với Ngô Thanh Hảo là người được Khũi nhờ tìm người mua cây Mai và bà Nguyễn Thị Lợi là người trực tiếp mua cây Mai do Khũi cùng đồng phạm trộm cắp. Tuy nhiên, Ngô Thanh Hảo và bà Nguyễn Thị Lợi đều không biết đây là tài sản do phạm tội mà có nên Cơ quan điều tra công an huyện Đak Đoa không xử lý là có cơ sở.

Đối với anh Phin là người đã được bị cáo Khũi nhờ khiêng cây Mai lên xe công nông và chở đến nhà trồng cho bà Nguyễn Thị Lợi. Tuy nhiên, anh Phin hoàn toàn không biết cây Mai này do bị cáo Khũi phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý là có cơ sở.

Đối với anh Thăn và anh Sư là những người đã cho bị cáo Khũi mượn điện thoại di động, xe công nông khi bị cáo thực hiện hành vi phạm tội. Tuy nhiên, anh Thăn và anh Sư hoàn toàn không biết mục đích và hành vi trộm cắp của bị cáo Khũi cùng đồng phạm nên không có căn cứ để xử lý là có cơ sở.

[5] Về vật chứng:

Đối với 01 cây Mai cao 03 mét và hoành gốc 65cm do bà Nguyễn Thị Lợi giao nộp là tài sản của anh Nguyễn Tiến Dũng bị các bị cáo chiếm đoạt nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa đã trả lại cho anh Dũng là có căn cứ.

Đối với 01 cây xà beng kích thước (4 x 98)cm và 01 cây cuốc có cán bằng gỗ dài 82cm, lưỡi bằng sắt kích thước (20 x 25)cm do bà Khát giao nộp là tài sản của gia đình bà Khát. Việc Khũi sử dụng những tài sản này làm công cụ để thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, gia đình bà Khát hoàn toàn không biết nên không có căn cứ để xử lý. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa đã trả lại các tài sản này cho bà Khát là có căn cứ.

Đối với 01 xe công nông mà bị cáo Khũi đã sử dụng để chở cây Mai sau khi trộm cắp, qua điều tra xác định chiếc xe này là của gia đình anh Sư (sinh năm 1984) trú tại thôn Piơm, thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa và có quan hệ họ hành với gia đình bị cáo Khũi. Việc bị cáo Khũi mượn chiếc xe này để sử dụng, sau đó làm phương tiện đi chở cây Mai do trộm cắp mà có gia đình anh Sư không biết nên không có căn cứ để thu giữ và xử lý là có căn cứ.

Đối với chiếc điện thoại di động nhãn hiệu SamSung J5 mà bị cáo Khũi đã sử dụng để chụp ảnh cây Mai và nhờ tìm người mua trước khi thực hiện hành vi trộm cắp, qua điều tra xác định đây là tài sản của anh Thăn. Tuy nhiên, khi cho mượn điện thoại, anh Thăn không biết mục đích của Khũi sử dụng vào việc trộm cắp tài sản nên không có căn cứ để thu giữ và xử lý là có căn cứ.

Đối với chiếc điện thoại di động Khũi sử dụng làm phương tiện liên lạc trong việc bán cây Mai sau khi trộm cắp, qua điều tra xác định là điện thoại di động của Khũi. Tuy nhiên, sau đó trong lúc đi chơi bị cáo đã làm mất chiếc điện thoại này nên không thu giữ được để xử lý là có căn cứ.

[6] Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại là anh Nguyễn Tiến Dũng đã nhận lại tài sản và không có yêu cầu gì thêm về việc bồi thường gì thêm, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Bị cáo Khũi đã bồi thường cho bà Nguyễn Thị Lợi số tiền bà Lợi đã mua cây Mai là 3.700.000 đồng, bà Lợi không có yêu cầu gì thêm về việc bồi thường, nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về án phí hình sự sơ thẩm: Các bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1 Điều 51; Điều 58 của Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Khũi;

- Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 của Bộ luật Hình sự đối với các bị cáo: HNuên, AYưm và Thên;

- Căn cứ Điều 135, 136 Bộ luật tố tụng Hình sự.

- Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về tội danh:

Tuyên bố bị cáo Khũi, HNuên, AYưm và Thên phạm tội “Trộm cắp tài sản”.

2. Về hình phạt:

Xử phạt bị cáo Khũi 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị tạm giữ, tạm giam (ngày 23/6/2020).

Xử phạt bị cáo HNuên, AYưm và Thên 09 (chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo, thời gian thử thách 18 (mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 01/12/2020).

Giao bị cáo HNuên, AYưm và Thên cho Uỷ ban nhân dân thị trấn Đak Đoa, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp các bị cáo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định tại Khoản 3 Điều 92 của Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

3. Về án phí:

Xử buộc bị cáo Khũi, HNuên, AYưm và Thên phải nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm là 200.000đồng (hai trăm nghìn đồng).

4. Về quyền kháng cáo:

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (ngày 01/12/2020), các bị cáo, những người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Gia Lai xét xử phúc thẩm. Đối với bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận bản án hoặc được niêm yết hợp lệ. Nơi nhận:

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- Toà án nhân dân tỉnh Gia Lai;

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- Sở tư pháp tỉnh Gia Lai;

- Công an huyện Đak Đoa;

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Đak Đoa;

- Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đak Đoa;

- Các bị cáo;

- Người tham gia tố tụng;

- Lưu hồ sơ/VT.

Nguyễn Thị Hoài Thơ

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH GIA LAI

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN

HUYỆN ĐAK ĐOA

Số: 18/CT–VKS

Đak Đoa, ngày 30 tháng 5 năm 2019

CÁO TRẠNG

VIỆN TRƯỞNG VIỆN KIỂM SÁT NHÂN DÂN HUYỆN ĐAK ĐOA

Căn cứ các Điều 41, 236, 239 và 243 Bộ luật tố tụng hình sự;

Căn cứ Quyết định khởi tố vụ án hình sự số 06 ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa, về tội: “Trộm cắp tài sản” và "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" quy định tại khoản 1 Điều 173 và khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự;

Căn cứ các Quyết định khởi tố bị can số 10, 11, 12,13 và 14 ngày 11 tháng 10 năm 2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa đối với Dên, Quy, Lương, Djõng, về tội: “Trộm cắp tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự và đối với Hlip, về tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có" quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự;

Căn cứ Bản kết luận điều tra vụ án hình sự đề nghị truy tố số 19 ngày 10/5/2019 của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa,

Trên cơ sở kết quả điều tra đã xác định được như sau:

Ông Nguyễn Bá Thường (Sinh năm 1964, trú tại: Số nhà 418 Phạm Văn Đồng, phường Đống Đa, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai) mua đất rẫy và trồng 07 ha cà phê tại khu vực thôn Hàm Rồng, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai, ông Thường có thuê Suyến (Sinh năm 1994, trú tại: Thôn Ô Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai) hàng ngày chăm sóc và trông coi vườn rẫy cà phê.

Vào chiều ngày 02/01/2019, Dên ngồi uống rượu tại quán thịt chó Nhã tại ngã ba thôn Hàm Rồng, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa cùng với Quy; Lương và Djõng. Do trước đó Dên và Quy có hái cà phê thuê cho ông Nguyễn Bá Thường, biết tại rẫy cà phê nhà ông Thường đang phơi cà phê nên Dên nảy sinh ý định trộm cắp cà phê của ông Thường và hỏi Quy “Cà phê nhà Thường khô chưa?”, do Quy đi làm ngang qua thấy tại rẫy nhà ông thường đang xay cà phê nên Quy nói với Dên “Cà phê khô rồi, đang thuê người xay”. Dên rủ Quy, Lương và Djõng đi trộm cắp cà phê của nhà ông Thường bán lấy tiền tiêu xài thì tất cả đồng ý.

Khoảng 20 giờ 30 phút, ngày 02/01/2019, Dên điều khiển xe mô tô biển kiểm soát (BKS) 81B2 - 429.47 (xe của gia đình Dên) chở Quy; Djõng điều khiển xe mô tô BKS 81F1- 9639 (xe của gia đình Lương) chở Lương đi trộm cắp cà phê. Dên chở Quy đi đến quán tạp hóa Hậu Hiền, tại: Thôn Ô Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, Dên đưa tiền cho Quy để mua 10 vỏ bao cước đựng cà phê hết 30.000đ (Ba mươi ngàn đồng). Sau đó tất cả đi đến nhà rẫy của gia đình Dên (gần rẫy nhà ông Thường) cất 02 xe mô tô tại đây rồi đi bộ đến rẫy cà phê của gia đình ông Thường. Khi đến nơi, thì tất cả trèo qua hàng rào lưới B40 để đi vào bên trong khu vực rẫy thì phát hiện thấy cà phê vỏ đang phơi dọc theo đường đi từ đầu rẫy đến cuối rẫy (đường bằng bê tông, từ hướng nam qua hướng bắc dài 267 mét x rộng 4,73 mét). Dên cùng Lương và Djõng hốt trộm cà phê vỏ đang phơi, còn Quy đi bộ xuống phía dưới nhà rẫy có điện sáng để cảnh giới (cách chỗ phơi cà phê là 180 mét). Trên đường đi, Quy phát hiện tại vị trí xay xát cà phê (cách vị trí đang phơi cà phê vỏ là 25 mét) có để 05 bao cà phê nhân (có bao đầy, bao vơi) nên Quy quay lại nói với Dên, Lương và Djõng không lấy cà phê vỏ nữa mà đi xuống lấy trộm cà phê nhân. Tất cả đi xuống khu vực nhà rẫy dồn 05 bao cà phê nhân vào 03 bao rồi thay nhau vác đưa ra bên ngoài hàng rào lưới B40 và mang đến cất giấu tại vườn cà phê của gia đình Djõng (cách vườn cà phê của ông Thường khoảng 500mét), sau đó lấy xe mô tô chở nhau đi về nhà ngủ.

Chiều ngày 04/01/2019, Dên điện thoại rủ Lương, Quy, Djõng và Hlip đến nhà rẫy của anh Yên uống rượu (Yên là anh rể vợ Dên). Sau khi uống rượu xong thì Yên về nhà trước, Hlip còn ở lại chơi thì Dên rủ Hlip cùng tham gia đi bán cà phê đã trộm cắp. Hlip có hỏi về nguồn gốc cà phê ở đâu có mà bán thì Dên nói cho Hlip biết là cà phê trộm cắp tại rẫy của ông Thường, Hlip đồng ý cùng đi bán.

Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 04/01/2019, Dên, Quy, Lương, Djõng và Hlip đến rẫy cà phê của Djõng chở cà phê trộm cắp đi bán, trong đó Quy đi xe mô tô BKS 81C1-044.32 (xe của bố mẹ Quy) chở 01 bao, Lương đi xe mô tô BKS 81F1-9639 (xe của bố mẹ Lương) chở 01 bao, Hlip đi xe mô tô BKS 81R2- 0327 (là xe của bố vợ tên Nhor) chở 01 bao và chở Djõng, Dên đi xe mô tô BKS 81B2-429.47 đi một mình. Các bị can chở cà phê trộm cắp được đến Doanh nghiệp thu mua nông sản Ngọc Chương tại xã Chư Hdrông, thành phố Pleiku, tỉnh Gia Lai gặp anh Trần Ngọc Chương để bán. Hlip và Dên trực tiếp đưa 03 bao cà phê vào bán, còn các bị can khác đứng bên ngoài chờ. Anh Chương trực tiếp cân 03 bao cà phê nhân trên được tổng cộng là 145,9kg, sau đó chị Phạm Thị Hiền là kế toán doanh nghiệp viết phiếu tính tiền giá 34.000đ/01kg (theo giá mua tại thời điểm hiện tại), được số tiền là 4.959.000 đ (Bốn triệu, chín trăm năm mươi chín ngàn đồng) đưa cho Hlip, Hlip đưa lại tiền cho Dên cầm. Dên chia cho mỗi người 500.000đ (Năm trăm ngàn đồng) để tiêu xài cá nhân, số tiền còn lại các bị can rủ nhau đi uống rượu và hát Karaokê hết.

Vào sáng ngày 03/01/2019, anh Suyến (người trông coi rẫy cho ông Thường) phát hiện cà phê của ông Thường bị mất trộm nhưng ông Thường đang đi họp tại thành phố Hồ Chí Minh nên điện thoại nhờ anh Trần Trọng Hòa (là em rể) viết đơn trình báo vụ việc đến Cơ quan điều tra Công an huyện Đak Đoa để xử lý theo quy định của pháp luật.

Ngày 05/01/2019, sau khi mua cà phê của Hlip và Dên bán, anh Chương nghi ngờ các bị can đã trộm cắp cà phê nên đã điện báo cáo Công an huyện Đak Đoa để điều tra làm rõ, xử lý vụ việc theo quy định. Cơ quan điều tra đã triệu tập các bị can để làm việc đồng thời tiến hành giữ người trong trường hợp khẩn cấp và bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Dên, Quy, Lương, Djõng và Hlip để xử lý theo quy định.

Theo Bản kết luận định giá tài sản số 67 ngày 10/01/2019 của Hội đồng định giá tài sản huyện Đak Đoa xác định 145,9kg cà phê nhân có trị giá là: 4.858.000 đồng.

* Vật chứng thu giữ gồm:

- 04 xe mô tô (Xe mô tô BKS 81B2- 429.47 do Dên giao nộp; xe mô tô BKS 81R2- 0327 do Hlip giao nộp; xe mô tô BKS 81F1- 9639 do Lương giao nộp; xe mô tô BKS 81C1- 044.32 do Quy giao nộp). Quá trình điều tra xác định xe mô tô BKS 81B2- 429.47 là của gia đình ông Djơnh (là bố của Dên); xe mô tô BKS 81R2-0327 là của gia đình ông Nhor (là bố vợ của Hlip); xe mô tô BKS 81F1- 9639 là xe của gia đình bà Glah (là mẹ của Lương); xe mô tô BKS 81C1- 044.32 của gia đình bà A Minh (là mẹ của Quy). Khi các bị can sử dụng xe mô tô đi thực hiện hành vi phạm tội ông Djơnh, ông Nhor, bà Glah và bà A Minh không biết nên không có căn cứ để xử lý đối với ông Djơnh, ông Nhor, bà Glah và bà A Minh. Cơ quan điều tra Công an huyện Đak Đoa đã ra Quyết định trả lại tài sản là xe mô tô cho chủ sở hữu theo quy định.

- Tiền Việt Nam đồng là 1.100.000 đồng, trong đó: Tạm giữ của Hlip số tiền 500.000 đồng; Quy số tiền 500.000 đồng và Djõng số tiền 100.000 đồng là tiền có được khi bán tài sản do trộm cắp mà có. Tuy nhiên, quá trình điều tra các bị can đã tự nguyện bồi thường số tiền 5.000.000 đồng cho bị hại Nguyễn Bá Thường (mỗi bị can bồi thường 1.000.000 đồng) nên Cơ quan điều tra đã ra Quyết định trả lại cho Hlip, Quy và Djõng theo quy định.

Đối với 145,9kg cà phê nhân khô, sau khi mua của Hlip và Dên bán, anh Trần Ngọc Chương đã trộn lẫn với cà phê của Doanh nghiệp và đã xuất bán nên không thu hồi được.

Đối với 10 chiếc bao mà các bị can để lại hiện trường, sau khi dọn dẹp anh Suyến đã đốt nên không thu giữ được.

* Về dân sự:

- Các bị can đã tự nguyện bồi thường xong về dân sự cho ông Nguyễn Bá Thường số tiền 5.000.000 đồng, ông Thường đã nhận đủ số tiền trên và không còn yêu cầu gì thêm.

Căn cứ vào các tình tiết và chứng cứ nêu trên,

KẾT LUẬN

Vào khoảng 21 giờ, ngày 02/01/2019, tại rẫy cà phê của gia đình ông Nguyễn Bá Thường thuộc thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai lợi dụng lúc trời tối nên Dên, Quy, Djõng và Lương đã trộm cắp 03 bao cà phê nhân, có trọng lượng là 145,9kg mang về khu vực nhà rẫy của gia đình bị can Djõng cất dấu. Đến ngày 04/01/2019, các bị can Dên, Quy, Djõng và Lương rủ thêm Hlip (Hlip biết số cà phê trên là do các bị can trộm cắp mà có) chở 03 bao cà phê trộm cắp được đến bán cho Doanh nghiệp thu mua nông sản Ngọc Chương được số tiền là 4.959.000 đồng. Tài sản mà các bị can chiếm đoạt qua định giá có trị giá là: 4.858.000 đồng.

Đây là vụ án có nhiều bị can cùng tham gia thực hiện hành vi phạm tội nhưng giữa các bị can không có sự bàn bạc, phân công nhiệm vụ cụ thể, không có sự câu kết chặt chẽ nên đây là vụ án đồng phạm thuộc trường hợp giản đơn. Trong đó, bị can Dên là người khởi xướng việc phạm tội, quá trình phạm tội rất tích cực nên bị can phải chịu trách nhiệm chính trong vụ án; các bị can Quy, Djõng và Lương là đồng phạm, tham gia trong vụ án với vai trò là người thực hành. Bị can Hlip phạm tội "Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có".

Như vậy có đủ căn cứ xác định bị can có lý lịch dưới đây đã phạm tội như sau:

LÝ LỊCH BỊ CAN

1. Bị can thứ nhất

Họ và tên: Dên, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam

Sinh năm 1992, tại tỉnh Gia Lai;

Nơi cư trú: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai;

Quốc tịch : Việt Nam;

Dân tộc: Jarai; Tôn giáo: Tin Lành

Nghề nghiệp: Làm nông;

Trình độ học vấn: 6/12;

Cha: Siu DJơnh, sinh năm 1966;

Mẹ: Par, sinh năm 1968;

Hiện cha mẹ bị can trú tại: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai;

Gia đình bị can có 04 chị, em; lớn nhất sinh năm 1987; nhỏ nhất sinh năm 1996, bị can là con thứ 3 trong gia đình.

Vợ: Ngâu, sinh năm 2000;

Bị can có 01 người con, sinh năm 2018;

Hiện vợ và con bị can trú tại: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.

Quá trình hoạt động của bị can:

Từ khi sinh ra và lớn lên được cha mẹ cho đi học hết lớp 6/12 thì nghỉ học ở nhà làm nông phụ giúp gia đình.

- Ngày 02/01/2019, có hành vi cùng đồng phạm "Trộm cắp tài sản" tại xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Ngày 11/01/2019, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa khởi tố, điều tra để xử lý theo quy định.

Tiền án; tiền sự: Không

Bị can bị bắt từ ngày 05/01/2019 đến ngày 11/01/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh.

2. Bị can thứ hai

Họ và tên: Quy, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam

Sinh năm 1992, tại tỉnh Gia Lai;

Nơi cư trú: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai;

Quốc tịch : Việt Nam;

Dân tộc: Jarai; Tôn giáo: Tin Lành

Nghề nghiệp: Làm nông;

Trình độ học vấn: 5/12;

Cha: Ueng, sinh năm 1945;

Mẹ: A Minh, sinh năm 1950;

Hiện cha mẹ bị can trú tại: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai;

Gia đình bị can có 03 chị, em; lớn nhất sinh năm 1988; nhỏ nhất sinh năm 1995, bị can là con thứ 2 trong gia đình.

Vợ: Ngunh, sinh năm 1995;

Bị can có 01 người con, sinh năm 2014;

Hiện vợ và con bị can trú tại: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.

Quá trình hoạt động của bị can:

Từ khi sinh ra và lớn lên được cha mẹ cho đi học hết lớp 5/12 thì nghỉ học ở nhà làm nông phụ giúp gia đình.

- Ngày 02/01/2019, có hành vi cùng đồng phạm "Trộm cắp tài sản" tại xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Ngày 11/01/2019, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa khởi tố, điều tra để xử lý theo quy định.

Tiền án; tiền sự: Không

Bị can bị bắt từ ngày 05/01/2019 đến ngày 11/01/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh.

3. Bị can thứ ba

Họ và tên: Lương, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam

Sinh năm 1997, tại tỉnh Gia Lai;

Nơi cư trú: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai;

Quốc tịch : Việt Nam;

Dân tộc: Jarai; Tôn giáo: Tin Lành

Nghề nghiệp: Làm nông;

Trình độ học vấn: 2/12;

Cha: Ling, sinh năm 1966;

Mẹ: Glah, sinh năm 1968;

Hiện cha mẹ bị can trú tại: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai;

Gia đình bị can có 06 chị, em; lớn nhất sinh năm 1991; nhỏ nhất sinh năm 2004, bị can là con thứ 3 trong gia đình.

Vợ: Gơn, sinh năm 1999;

Bị can có 01 người con, sinh năm 2015;

Hiện vợ và con bị can trú tại: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.

Quá trình hoạt động của bị can:

Từ khi sinh ra và lớn lên được cha mẹ cho đi học hết lớp 2/12 thì nghỉ học ở nhà làm nông phụ giúp gia đình.

- Ngày 02/01/2019, có hành vi cùng đồng phạm "Trộm cắp tài sản" tại xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Ngày 11/01/2019, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa khởi tố, điều tra để xử lý theo quy định.

Tiền án; tiền sự: Không

Bị can bị bắt từ ngày 05/01/2019 đến ngày 11/01/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh.

4. Bị can thứ thứ tư

Họ và tên: DJõng, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam

Sinh năm 1985, tại tỉnh Gia Lai;

Nơi cư trú: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai;

Quốc tịch : Việt Nam;

Dân tộc: Jarai; Tôn giáo: Tin Lành

Nghề nghiệp: Làm nông;

Trình độ học vấn: 6/12;

Cha: Dinh, sinh năm 1963;

Mẹ: Yil, sinh năm 1965;

Hiện cha mẹ bị can trú tại: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai;

Gia đình bị can có 04 anh, em; lớn nhất sinh năm 1985; nhỏ nhất sinh năm 1993, bị can là con lớn nhất trong gia đình.

Vợ: Pen, sinh năm 1985;

Bị can có 04 người con, lớn nhất sinh năm 2004, nhỏ nhất sinh năm 2019;

Hiện vợ và các con bị can trú tại: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.

Quá trình hoạt động của bị can:

Từ khi sinh ra và lớn lên được cha mẹ cho đi học hết lớp 6/12 thì nghỉ học ở nhà làm nông phụ giúp gia đình.

- Ngày 02/01/2019, có hành vi cùng đồng phạm "Trộm cắp tài sản" tại xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Ngày 11/01/2019, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa khởi tố, điều tra để xử lý theo quy định.

Tiền án; tiền sự: Không

Bị can bị bắt từ ngày 05/01/2019 đến ngày 11/01/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh.

5. Bị can thứ năm

Họ và tên: Hlip, tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam

Sinh năm 1991, tại tỉnh Gia Lai;

Nơi cư trú: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai;

Quốc tịch : Việt Nam;

Dân tộc: Jarai; Tôn giáo: Tin Lành

Nghề nghiệp: Làm nông;

Trình độ học vấn: 4/12;

Cha: Huin, sinh năm 1960;

Mẹ: Hut, sinh năm 1962;

Hiện cha mẹ bị can trú tại: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai;

Gia đình bị can có 09 chị, em; lớn nhất sinh năm 1973; nhỏ nhất sinh năm 1997, bị can là con thứ 8 trong gia đình.

Vợ: Myin, sinh năm 1991;

Bị can chưa có con;

Hiện vợ bị can trú tại: Thôn O Yố, xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai.

Quá trình hoạt động của bị can:

Từ khi sinh ra và lớn lên được cha mẹ cho đi học hết lớp 4/12 thì nghỉ học ở nhà làm nông phụ giúp gia đình.

- Ngày 02/01/2019, có hành vi cùng đồng phạm "Trộm cắp tài sản" tại xã Ia Băng, huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai. Ngày 11/01/2019, bị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Đak Đoa khởi tố, điều tra để xử lý theo quy định.

Tiền án; tiền sự: Không

Bị can bị bắt từ ngày 05/01/2019 đến ngày 11/01/2019 được thay đổi biện pháp ngăn chặn cho Bảo lĩnh.

Hành vi của các bị can Dên, Quy, Lương và DJõng là nguy hiểm cho xã hội, các bị can đã trực tiếp xâm phạm vào quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật hình sự bảo vệ. Tài sản mà các bị can chiếm đoạt có trị giá là 5.150.000 đồng. Do vậy, hành vi của các bị can đã phạm vào tội: “Trộm cắp tài sản", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Đối với bị can Hlip mặc dù biết được tài sản do bị can Dên cùng đồng phạm trộm cắp mà có nhưng vẫn giúp sức cùng với các bị can Dên, Quy, Lương và DJõng đi tiêu thụ tài sản, tài sản mà bị can tiêu thụ có trị giá là 5.150.000 đồng. Do vậy, hành vi của bị can đã phạm vào tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có", tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

Tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự quy định:

"1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a, Đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản mà còn vi phạm;

b, Đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 174, 175 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm...".

Tại khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự quy định:

" 1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm..."

Các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Các bị can có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, trong quá trình điều tra các bị can đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hình vi phạm tội của mình; sau khi phạm tội các bị can đã tự nguyện bồi thường thiệt hại để khắc phục hậu quả cho người bị hại, người bị hại xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị can. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với các bị can được quy định tại điểm b, i, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Đối với anh Trần Ngọc Chương và chị Phạm Thị Hiền là người đã trực tiếp mua số cà phê do Dên cùng đồng phạm trộm cắp mà có, khi mua anh Chương và chị Hiền không biết đó là tài sản do phạm tội mà có nên không có căn cứ để xử lý về hình sự đối với anh Chương và chị Hiền là phù hợp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

1. Truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Đak Đoa, tỉnh Gia Lai để xét xử các bị can Dên, Quy, Lương và DJõng, có lý lịch nêu trên về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự; bị can Hlip, có lý lịch nêu trên về tội: “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” theo quy định tại Khoản 1 Điều 323 Bộ luật hình sự.

2. Kèm theo Cáo trạng có:

- Hồ sơ vụ án gồm có: 01 tập, được đánh số từ 01 đến 284.

- Danh sách những người VKS đề nghị Tòa án triệu tập đến phiên toà./.

Cỡ chữ