vanban.org

Bản án 40/2020/HS-PT — Hình sự

TAND tỉnh Tây Ninh Tuyên án 04/03/2020 Hình sự Phúc thẩm
Đã có hiệu lực pháp luật — từ ngày tuyên án 04/03/2020 Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Quốc N.

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Huỳnh Quốc N phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Huỳnh Quốc N - phạm tội chống người thi hành công vụ (điều 330 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Quốc N.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 23 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
TÒA ÁN NHÂN DÂN
TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2020/HS-PT
Ngày 04-3-2020

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Văn Ngầu.

Các Thẩm phán: Ông Mai Văn Triến;

Bà Phạm Thị Thanh Giang.

- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Phố, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Hoàng Việt - Kiểm sát viên.

Ngày 04 tháng 3 năm 2020, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 26/2020/TLPT-HS ngày 10 tháng 01 năm 2020 đối với bị cáo Huỳnh Quốc N, do có kháng cáo của bị cáo Huỳnh Quốc N đối với Bản án Hình sự sơ thẩm số: 143/2019/HS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện D, tỉnh Tây Ninh.

- Bị cáo kháng cáo: Huỳnh Quốc N, tên gọi khác: N, sinh năm 1991, tại tỉnh Tây Ninh; Nơi đăng ký nhân khẩu thường trú và nơi cư trú hiện nay: ấp K, xã L, huyện B, tỉnh Tây Ninh; Nghề nghiệp: Làm mướn; Trình độ học vấn: 10/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Huỳnh Văn M, sinh năm 1970 và bà Ca Thị Mỹ A, sinh năm 1971; Vợ, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không có; Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 29-7-2019 đến 25-9-2019 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt tại phiên tòa.

- Ngoài ra còn có những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có kháng cáo: Tòa án không triệu tập.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ ngày 28-7-2019, Huỳnh Quốc N uống bia cùng anh Nguyễn Hoài H tại quán Tuấn A thuộc Ấp 5, xã Đ, huyện D, tỉnh Tây Ninh. Đến 14 giờ cùng ngày, N điều khiển xe mô tô biển số: 70F1-082.80 chở H về huyện B, tỉnh Tây Ninh. Khi đến đoạn đường nội bộ D11 khu công nghiệp Đ - L thuộc ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Tây Ninh thì bị anh Phan Minh T là cán bộ đội Cảnh sát giao thông Công an huyện D, tỉnh Tây Ninh, mặc đồng phục cảnh sát giao thông điều khiển xe mô tô đặc chủng biển số: 70A-000.72 chở phía sau anh Trần Văn H là tuần tra nhân dân của xã Đ, huyện D đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát ra hiệu lệnh yêu cầu N dừng xe để kiểm tra. N không dừng xe mà tăng ga bỏ chạy, anh T điều khiển xe đuổi theo áp sát yêu cầu dừng xe, thì bị N dùng chân đạp vào bánh xe trước của xe mô tô đặc chủng biển số: 70A-000.72. Hậu quả, anh T và anh H ngã xuống đường. Sau đó, N điều khiển xe chở H bỏ chạy. Ngày 29-7-2019, N bị Cơ quan Cảnh sát điều tra công an huyện D, tỉnh Tây Ninh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp để điều tra xử lý theo quy định pháp luật.

Tại Bản án Hình sự sơ thẩm số: 143/2019/HS-ST ngày 27 tháng 11 năm 2019 của Tòa án nhân dân huyện D đã quyết định:

Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự.

Xử phạt bị cáo Huỳnh Quốc N 02 (hai) năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giam, tạm giữ từ ngày 29-7-2019 đến ngày 25-9-2019.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về xử lý vật chứng, án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 10 tháng 12 năm 2019, bị cáo Huỳnh Quốc N có đơn kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt.

Tại phiên tòa, bị cáo giữ nguyên nội dung kháng cáo.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh đề nghị: Hội đồng xét xử căn cứ điểm a khoản 1 Điều 355, Điều 356 của Bộ luật tố tụng Hình sự. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị cáo; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Bị cáo không tranh luận.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để bị cáo sớm đoàn tụ với gia đình.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

. Hành vi của bị cáo thể hiện: Khoảng 14 giờ ngày 28-7-2019, tại khu vực ấp Đ, xã Đ, huyện D, tỉnh Tây Ninh, bị cáo Huỳnh Quốc N đã sử dụng rượu bia điều khiển xe mô tô biển số: 70F1-082.80 chở anh Nguyễn Hoài H đến đoạn đường nội bộ D11 khu công nghiệp Đ-L thuộc ấp Đ, xã Đ, huyện D tỉnh Tây Ninh, thì bị anh Phan Minh T là cán bộ Đội Cảnh sát giao thông Công an huyện D, tỉnh Tây Ninh, mặc đồng phục Cảnh sát giao thông điều khiển xe mô tô đặc chủng biển số: 70A-000.72 chở phía sau anh Trần Văn H là tuần tra nhân dân của xã Đ, huyện D đang làm nhiệm vụ tuần tra, kiểm soát ra hiệu lệnh yêu cầu N dừng xe để kiểm tra, nhưng bị cáo N không chấp hành mà tiếp tục điều khiển xe bỏ chạy, anh T tiếp tục đuổi theo bị cáo N dùng chân đạp vào bánh trước xe mô tô đặc chủng biển số: 70A-000.72. Hậu quả, anh T và anh H ngã xuống đường bị thương tích và không thực hiện được nhiệm vụ của mình. Hành vi này của bị cáo N đã đủ yếu tố cấu thành tội “Chống người thi hành công vụ”. Cấp sơ thẩm xét xử bị cáo N theo khoản 1 Điều 330 là có căn cứ, đúng pháp luật.

. Vụ án mang tính chất ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo N nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến trật tự quản lý hành chính. Không chấp hành hiệu lệnh mà còn dùng vũ lực cản trở, tấn công anh T, anh H làm cho anh T, anh H không hoàn thành được nhiệm vụ của mình. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc đối với bị cáo để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

. Xét kháng cáo của bị cáo thấy rằng: Khi quyết định hình phạt, Tòa án cấp sơ thẩm đã xem xét các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo như: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và xử phạt bị cáo 02 (hai) năm tù là tương xứng với tính chất và mức độ phạm tội của bị cáo gây ra, không nặng.

. Bị cáo kháng cáo xin được giảm nhẹ hình phạt nhưng không cung cấp được các tình tiết giảm nhẹ mới nên không có cơ sở để chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Quốc N; chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên; giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Về án phí: Căn cứ Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; điểm b khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, do kháng cáo không được chấp nhận nên bị cáo Huỳnh Quốc N phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự phúc thẩm.

Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 và Điều 356 của Bộ luật Tố tụng hình sự.

Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Huỳnh Quốc N.

Giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 330; điểm i, s khoản 1 Điều 51 và Điều 38 của Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Huỳnh Quốc N 02 (hai) năm tù về tội “Chống người thi hành công vụ”, thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày bắt bị cáo đi chấp hành án, được khấu trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 29-7-2019 đến 25-9-2019.

2. Về án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Huỳnh Quốc N phải chịu 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng.

3. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị phúc thẩm.

4. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Cỡ chữ