vanban.org

Bản án 40/2019/HSST — Hình sự

TAND TP. Lai Châu, tỉnh Lai Châu Tuyên án 19/11/2019 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lù Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lù Văn H 08 (tám) tháng tù. Bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giữ là 03 (ba) ngày. Bị cáo còn phải chấp hành tiếp là 07 (bảy) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án. Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồ… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lù Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TAND THÀNH PHỐ L
TỈNH L
Bản án số: 40/2019/HSST
Ngày 19 -11 - 2019

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ L

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ toạ phiên toà: Bà Tòng Thị Tuyết

Các hội thẩm nhân dân:

1. Bà Nguyễn Lệ Thủy

Nghề nghiệp: Cán bộ đoàn. Nơi công tác: Hội Phụ nữ thành phố L, tỉnh L

2. Ông Nguyễn Quốc Huy

Nghề nghiệp: Cán bộ. Nơi công tác: Liên đoàn lao động thành phố L, tỉnh L.

- Thư ký phiên toà: Ông Phan Hồng Phúc – Thư ký Toà án

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L tham gia phiên toà: Bà Dương Thị Ngọc, Kiểm sát viên.

Ngày 19/11/2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố L xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 41/2019/HSST ngày 23 tháng 10 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 41/2019/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 11 năm 2019 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lù Văn H; Tên gọi khác: Không; Sinh năm 2000 tại L; Nơi ĐKHKTT: Bản Tả Sin Chải 1, phường Đông P, thành phố L, tỉnh L; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ văn hoá (học vấn): 09/12; Dân tộc: Giấy; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: không; Con ông: Lù Văn Quan, sinh năm 1972, con bà Pan Thị San, sinh năm 1976; Vợ, con: Không có; Anh chị em ruột có 03 người, bị cáo là con thứ hai; Tiền sự: không; Tiền án: không; Về nhân thân: Ngày 11/8/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh L đã áp dụng biện pháp đưa vào trường Giáo dưỡng với thời hạn 24 tháng tại Trường Giáo dưỡng số 2 - xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Đến ngày 01/5/2018 Lù Văn H đã chấp hành xong quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đã được xóa tiền sự; Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 08/9/2019 đến ngày 11/9/2019 được thay thế bằng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú cho đến nay. Có mặt tại phiên toà.

- Người bị hại: Lù Văn K, sinh ngày 16/5/2003; Trú tại: Bản M, xã San T, thành phố L, tỉnh L. Vắng mặt có lý do.

Người đại diện theo pháp luật của Lù văn K: bà Hoàng Thị D, sinh năm 1979. Trú tại: Bản M, xã San T, thành phố L, tỉnh L. Vắng mặt có lý do.

- Những người làm chứng:

1. Anh Nguyễn Văn K, sinh năm 1984. Trú tại: Bản Trung T1, xã San T, thành phố L, tỉnh L. Vắng mặt có lý do.

2. Ông Nông V, sinh năm 1963. Trú tại: Bản Nà C, xã Bản G, huyện Tam Đ, tỉnh L. Vắng mặt không có lý do

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Về hành vi phạm tội của bị cáo:

Ngày 06/9/2019, Công an phường Đông P, thành phố L, tỉnh L nhận được tin báo của Lù Văn K về việc: Khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 06/9/2019 K bị mất 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Espero màu đen, BKS 25AA-019.39 để trước cửa quán KZ Game thuộc tổ 23, phường Đông P, thành phố L, tỉnh L. Sau khi tiếp nhận tin báo, cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố L tiến hành điều tra, xác minh truy tìm đối tượng.

Ngày 08/9/2019, ông Nông V sinh năm 1963. Trú tại Bản Nà C, xã Bản G, huyện Tam Đ, tỉnh L đã giao nộp cho Công an xã Bản G, huyện Tam Đ, tỉnh L 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Espero màu đen, BKS 25AA-019.39 với lý do ông Lưu phát hiện chiếc xe máy trên để bên đường gần Trường tiểu học Nà C, xã Bản G từ ngày 06/9/2019 đến ngày 08/9/2019 nhưng không có ai đến nhận.

Cùng ngày 08/9/2019 đối tượng Lù Văn H đã đến Công an thành phố L đầu thú về hành vi trộm cắp 01 chiếc xe máy nhãn hiệu Espero màu đen, BKS 25AA-019.39 tại quán KZ Game thuộc tổ 23, phường Đông P, thành phố L, tỉnh L.

Tại cơ quan điều tra Lù Văn H khai nhận: Khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 06/9/2019, Hà đến quán KZ Game thuộc tổ 23, phường Đông P, thành phố L, tỉnh L để chơi điện tử. Chơi được khoảng 20 phút thì Hà ra về, khi đi ra cửa quán thì phát hiện chiếc xe máy nhãn hiệu Espero màu đen, BKS 25AA-019.39 để trước cửa quán, quan sát xung quanh không thấy ai, Hà dắt chiếc xe máy xuống đường đi theo hướng vòng xuyến rẽ xuống chợ San T, thành phố L, tỉnh L và rẽ vào quán sửa xe máy của anh Nguyễn Văn K ở gần chợ San T để nhờ thay ổ khóa. Do anh Nguyễn Văn K không có đồ để thay nên H nhờ anh K giật dây đen trong đầu xe rồi tiếp tục dắt xe theo hướng từ xã San T, thành phố L đến xã Bản G, huyện Tam Đ. Sau đó H thả trôi dốc cài xe về số 4 thì xe nổ máy, H đi xe đến để ở cạnh đường gần Trường tiểu học Nà C, xã Bản G rồi đi vào nhà bà ngoại ở Nà C, xã Bản G, huyện Tam Đ, tỉnh L ngủ. Đến ngày 07/9/2019 H bỏ lại chiếc xe và quay về nhà ở Bản Mới, xã San T, thành phố L, tỉnh L vì nghĩ xe không thay được khóa và không có chìa khóa thì không bán được. Đến ngày 08/9/2019 Hà ra Công an thành phố L đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Mục đích trộm cắp chiếc xe là để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân.

Kết luận định giá tài sản số 35/KLĐG, ngày 11/9/2019 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố L kết luận: xe mô tô nhãn hiệu Espero màu đen BKS 25AA-019.39 có giá trị còn lại là 9.000.000 đồng(Chín triệu đồng chẵn)

Ngày 26/9/2019 Cơ quan điều tra đã trả cho Lù Văn K chiếc xe mô tô trên.

Các vấn đề khác của vụ án:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại không có ý kiến hay khiếu nại gì.

Người bị hại là Lù Văn K trình bày: Chiếc xe mô tô nhãn hiệu Espero màu đen BKS 25AA-019.39 là xe của Lù Văn K, Ngày 06/9/2019 K đi xe đến quán KZ Game để chơi game khi ra về không thấy xe, trong cốp xe có Giấy đăng ký xe mang tên Lù Văn K và sổ bảo hành xe. Nguồn gốc chiếc xe là do Lù Văn K mua với giá 15.000.000 đồng, mua khoảng tháng 10/2018 để làm phương tiện đi lại. Hiện nay Lù Văn K đã nhận lại xe và giấy tờ xe nên không có yêu cầu gì.

Người làm chứng là anh Nguyễn Văn K trình bày: Khoảng 21 giờ ngày 06/9/2019 có một nam thanh niên dắt 01 chiếc xe máy đến quán sửa xe của anh ở bản Trung Tâm, xã San T, thành phố L, tỉnh L để thay khóa điện của xe, nhưng do quán anh không có ổ khóa để thay nên anh bảo người đó để lại xe sáng hôm sau sửa thì người đó bảo có việc phải đi luôn nên nhờ anh K rút dây đen ở ổ khóa điện ra, sau đó người đó dắt xe đi tiếp.

Người làm chứng là ông Nông V trình bày: Đêm ngày 06/9/2019 ông Lưu đi từ nhà ở bản Nà C, xã Bản G đi theo hướng ra Trụ sở UBND xã Bản G, huyện Tam Đ, tỉnh L thì nhìn thấy chiếc xe máy màu đen dựng bên đường gần trường Tiểu học xã Bản G không có người trông giữ. Các ngày 07/9/2019 và ngày 08/9/2019 ông Nông V đi chợ vẫn thấy chiếc xe máy dựng ở đó nên đã báo cho Công an xã Bản G, huyện Tam Đ, tỉnh L đến lập biên bản tạm giữ chiếc xe trên.

Tại bản cáo trạng số: 37/CT-VKSTP ngày 23/10/2019 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L đã truy tố bị cáo Lù Văn H về tội "Trộm cắp tài sản" theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.

Tại phiên toà, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, tỉnh L vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Lù Văn H phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Lù Văn H từ 06 đến 09 tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án, được trừ thời gian đã bị tạm giữ là: 03 ngày. Hình phạt bổ sung: Miễn hình phạt bổ sung là phạt tiền cho bị cáo. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Tại lời nói sau cùng bị cáo Lù Văn H thể hiện việc bị cáo nhận thức được hành vi mà bị cáo thực hiện là phạm tội. Bị cáo ăn năn hối cải, đề nghị được hưởng sự khoan hồng của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố L, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố L, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Về tính chất mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội:

Khoảng 21 giờ 00 phút, ngày 06/9/2019, lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản của chủ sở hữu, Lù Văn H đã trộm cắp chiếc xe mô tô nhãn hiệu Espero màu đen BKS 25AA-019.39 của Lù Văn K có giá trị là 9.000.000 đồng(Chín triệu đồngchẵn), mục đích trộm cắp chiếc xe trên là để bán lấy tiền tiêu xài cá nhân. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật hình sự. Vậy, cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố L đã truy tố bị cáo là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

Xét tính chất của vụ án là ít nghiêm trọng, hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn. Bị cáo là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự do hành vi phạm tội mà bị cáo gây ra, nhận thức được hành vi trộm cắp tài sản là phạm tội nhưng vẫn cố ý thực hiện.

Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo:

Về nhân thân của bị cáo: Ngày 11/8/2016 bị Tòa án nhân dân thành phố L, tỉnh L đã áp dụng biện pháp đưa vào trường Giáo dưỡng với thời hạn 24 tháng tại Trường Giáo dưỡng số 2 - xã Mai Sơn, huyện Yên Mô, tỉnh Ninh Bình. Đến ngày 01/5/2018 Lù Văn H đã chấp hành xong quyết định đưa vào trường giáo dưỡng, đã được xóa tiền sự.

Về tình tiết tăng nặng: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ: Bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng và trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình. Ngoài ra, bị cáo đã tự giác đến cơ quan điều tra đầu thú về hành vi phạm tội của mình. Đó là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự.

Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự bị cáo có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng. Tuy nhiên, theo các tài liệu chứng cứ và lời khai của bị cáo tại phiên tòa cho thấy bị cáo không có việc làm ổn định, không có thu nhập và không có tài sản riêng. Do đó, Hội đồng xét xử quyết định miễn áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo.

Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự; các Điều 136, 331, 333 của Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.

1. Tuyên bố bị cáo Lù Văn H phạm tội: “Trộm cắp tài sản”

2. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Lù Văn H 08 (tám) tháng tù. Bị cáo được trừ thời gian đã bị tạm giữ là 03 (ba) ngày. Bị cáo còn phải chấp hành tiếp là 07 (bảy) tháng 27 (hai mươi bảy) ngày. Thời hạn tù tính từ ngày bị cáo vào trại chấp hành án.

3.Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, người bị hại hoặc người đại diện hợp pháp của người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án.

Cỡ chữ