- Tranh chấp gì? án hình sự — "MAI TẤN Q - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố: Bị cáo Mai Tấn Q phạm tội “Cướp giật tài sản”.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 135 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2019/HSST Ngày: 17- 4- 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 7 - TP. HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Ngọc Phương.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thanh Toàn
2. Bà Tống Thị Kim Điền.
- Thư ký phiên tòa: Ông Chiêm Tiền Q Nhân - Thư ký Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Trương Hoài Ninh - Kiểm sát viên
Ngày 17/4/2019 tại Phòng xử án Tòa án nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 29/2019/HSST ngày 05 tháng 3 năm 2019 đối với bị cáo:
Mai Tấn Q, sinh năm 2000 tại Thành phố Hồ Chí Minh; gới tính: Nam; nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: đường M, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: làm thuê; quốc tịch: Việt Nam; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; trình độ học vấn: 8/12; con ông Mai Văn T và con bà Lê Kim H; chưa vợ, con: tiền án, tiền sự: không; bị cáo bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 18/10/2018. (có mặt)
Người bị hại: Chị Trần Thị Kiều Y, sinh năm 1994; tạm trú: đường H, phường K, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Bà Lê Kim H, sinh năm 1969; thường trú: đường M, phường N, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 14 giờ 00 phút ngày 18/10/2018, Đen (chưa rõ lai lịch) gọi cho Mai Tấn Q rủ đi cướp giật tài sản để có tiền tiêu xài. Sau khi nghe điện thoại, Q suy nghĩ khoảng 5-10 phút thì gọi lại cho Đen, đồng ý cùng Đen đi cướp giật tài sản. Đen có nhiệm vụ tìm người có tài sản sơ hở thì báo Q và cảnh giới. Khoảng 15 giờ cùng ngày, Đen điều khiển xe gắn máy hiệu Luvias màu trắng (chưa rõ biển số) và Q điều khiển xe gắn máy hiệu Luvias màu trắng, biển số 59C1-488.20 chạy trên các tuyến đường Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh tìm cơ hội cướp giật tài sản. Khi đến trước địa chỉ 418 Lê Văn Lương, phường Tân Hưng, Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, Đen nhìn thấy chị Trần Thị Kiều Y đang điều khiển xe gắn máy hiệu Ariblade, biển số 49B1-074.69, ở túi quần phía trước có để 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen. Đen gọi điện thoại báo cho Q. Q điều khiển xe theo chị Y đến gần ngã tư phía trước thì Q áp sát bên phải chị Y, dùng tay trái giật chiếc điện thoại và quẹo phải tăng ga tẩu thoát thì bị tổ tuần tra của đội Cảnh sát hình sự đặc nhiệm hướng Nam phát hiện, Q bị té ngã, điện thoại của Q văng ra ngoài đường mất, Q bị bắt quả tang cùng vật chứng, riêng Đen tẩu thoát.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh, Mai Tấn Q đã khai nhận hành vi phạm tội của mình.
Theo Kết luận định giá tài sản số 420/KL-HĐĐGTTHS ngày 16/11/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự - Ủy ban nhân dân Quận 7, kết luận: “01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen theo công văn yêu cầu định giá tài sản trên, có giá trị là 13.000.000đ (mười ba triệu đồng).”
Tại Bản cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 20/2/2019, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Mai Tấn Q phạm tội “Cướp giật tài sản” theo điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, trong phần tranh luận đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử:
- Tuyên xử bị cáo Mai Tấn Q về tội “Cướp giật tài sản”
- Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Mai Tấn Q từ 03 (ba) năm đến 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng.
Đồng thời, đề nghị xử lý vật chứng theo quy định của pháp luật.
Bị cáo khai nhận hành vi chiếm đoạt tài sản của mình phù hợp với nội dung vụ án được tóm tắt ở trên, không tự bào chữa, không tranh luận, xin giảm nhẹ hình phạt.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa;
Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Lê Kim H.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an Quận 7, điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân Quận 7, kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Căn cứ lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa kết hợp với các tài liệu, chứng cứ thu thập được trong hồ sơ, xét đã có đủ cơ sở để kết luận: bị cáo Mai Tấn Q đã có hành vi điều khiển xe gắn máy nhanh chóng, bất ngờ chiếm đoạt chiếc điện thoại di động hiệu Iphone 7 Phus màu đen có giá trị 13.000.000 đồng của chị Trần Thị Kiều Y một cách trái pháp luật. Hành vi này của bị cáo Mai Tấn Q đã phạm vào tội “Cướp giật tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm d khoản 2 Điều 171 Bộ luật Hình sự 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như Viện kiểm sát nhân dân Quận 7 truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.
Hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý và rất nguy hiểm cho xã hội. Xâm hại đến tài sản công dân, bị cáo khai có đồng phạm cùng tham gia, dùng thủ đoạn nguy hiểm là điều khiển xe gắn máy để thực hiện hành vi phạm tội có khả năng gây nguy hiểm đến tính mạng và sức khoẻ của người khác. Do vậy, phải áp dụng mức hình phạt nghiêm khắc, tương xứng để cải tạo giáo dục bị cáo và răn đe, phòng ngừa.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo trong quá trình điều tra và tại phiên tòa đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; phạm tội nhưng chưa gây thiệt hại; có ông ngoại là ông Lê Văn R được trao tặng Huân chương kháng chiến Hạng Ba, có bà Ngoại là bà Mai Thị C được trao tặng Huy chương kháng chiến Hạng Nhất nên thuộc trường hợp quy định tại điểm h, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi bổ sung năm 2017.
Đối với tên Đen, bị cáo khai là đồng phạm và chưa xác định được lai lịch nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7 tiếp tục điều tra, xử lý sau.
Xử lý vật chứng vụ án:
- 01 điện thoại di động hiệu Iphone 7 Plus màu đen, số imei: 3558410811447847, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận 7 đã trả lại cho người bị hại là chị Trần Thị Kiều Y, là có căn cứ nên không xét.
- 01 xe gắn máy hiệu Luvias màu trắng, biển số 59C1-488.20, số máy 1SK1014965, số khung RLCL1SK10EY014954, xe do bà Lê Kim H là mẹ của bị cáo Q đứng tên sở hữu, bà H cho bị cáo mượn xe để đi làm hằng ngày, việc Q sử dụng xe đi cướp giật tài sản bà H không biết nên xét trả lại xe cho bà H.
Về trách nhiệm dân sự: Người bị hại là chị Trần Thị Kiều Y nhận lại được tài sản và không có yêu cầu gì khác. Tại phiên tòa hôm nay vắng mặt nên không xét.
Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Tuyên bố: Bị cáo Mai Tấn Q phạm tội “Cướp giật tài sản”.
1. Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 171; điểm h, s Khoản 1 và Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
- Xử phạt bị cáo Mai Tấn Q 03 (ba) năm 06 (sáu) tháng tù.
Thời hạn tù tính ngày 18/10/2018.
2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015; Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:
- Trả lại 01 xe gắn máy hiệu Luvias màu trắng, biển số 59C1-488.20, số máy 1SK1014965, số khung RLCL1SK10EY014954 cho bà Lê Kim H.
(theo Biên bản về việc giao nhận vật chứng, tài sản số 56 ngày 20/02/2019 của Công an Quận 7, Thành phố Hồ Chí Minh).
3. Áp dụng Điều 135, Điều 136 Bộ luật tố tụng Hình sự năm 2015:
Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng.
Trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm đến Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Đối với người bị hại chị Trần Thị Kiều Y vắng mặt tại phiên tòa thì được quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 (Mười lăm) ngày tính từ ngày được nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND Tp. HCM; - VKSND Quận 7; - Công an Quận 7; - Chi cục THADS Quận 7; - Sở Tư pháp Quận 7; - Bị cáo; - Đương sự; - Lưu sổ án; - Lưu hồ sơ | Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: (đã ký và đó ng dấ u) Trần Thị Ngọc Phương |