- Tranh chấp gì? án hình sự — "K'T phạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo K’T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ TỈNH LÂM ĐỒNG ––––––––––––––– | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2019/HS-ST Ngày: 18/6/2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LÂM HÀ, TỈNH LÂM ĐỒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Mạnh Hùng
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Ngô Thị Luân
Ông K’Dung
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Sơn Linh – Là thư ký Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Thế Hùng - Kiểm sát viên.
Ngày 18 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 31/2019/TLST-HS ngày 09 tháng 5 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 38/2019/QĐXXST-HS ngày 03 tháng 6 năm 2019 đối với bị cáo:
K’T; sinh năm: 1998; tại: Lâm Đồng; Nơi cư trú: Tổ dân phố R, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá: 1/12; dân tộc: K’ho; giới tính: nam; tôn giáo: thiên chúa; quốc tịch: Việt Nam; con ông K’ T và bà K’D; Gia đình bị can có 06 chị em, lớn nhất đã chết, nhỏ nhất sinh năm 2006; bị cáo là con thứ hai trong gia đình; tiền án: không; tiền sự: Tại quyết định số 01/QĐ-TAND ngày 03/7/2015 của Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà, tỉnh Lâm Đồng đưa vào trường giáo dưỡng số 04 với thời gian 24 tháng; bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 17/01/2019. Hiện đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ Công an huyện Lâm Hà. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Người bị hại:
Anh K’H (G), sinh năm: 2000.
Địa chỉ: Tổ dân phố K, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
Anh K’H, sinh năm: 2001.
Địa chỉ: Tổ dân phố R, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Anh Phạm Nhật Q, sinh năm: 1989.
Địa chỉ: Tổ dân phố Y, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
- Người làm chứng:
Anh K’N, sinh năm: 1997
Địa chỉ: Tổ dân phố R, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Có mặt.
Chị K’N, sinh năm: 1995.
Địa chỉ: Tổ dân phố R, thị trấn Đ, huyện L, tỉnh Lâm Đồng. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 10/8/2018, K’T đi từ nhà xuống tổ dân phố R, thị trấn Đinh Văn, huyện Lâm Hà với mục đích tìm nhà nào sơ hở để lấy trộm tài sản. K’ T đi bộ một mình dọc quốc lộ 27 hướng tổ dân phố C, thị trấn Đ, khi đi qua cửa hàng điện máy M khoảng 100m thì K’T thấy bên trái đường có nhà chốt cổng nhưng không khóa, K’ T nhìn vào thấy trên hiên nhà có để một chiếc xe máy kiểu dáng Dream, không có yếm, không có người trông coi nên K’ T nảy sinh ý định lấy chiếc xe này nên K’T đi đến cổng được quấn bởi sợ dây xích để giữ hai cánh cổng. K’ T mở được cổng và đi đến vị trí để chiếc xe thấy xe không khóa cổ thì K’ T dắt xe ra ngoài cổng. Tại đây K’ T dựng xe rồi quay vào đóng cửa cổng sau đó dắt xe đi theo hướng thị trấn Đ được khoảng 15m đến trước quán L thì dừng lại để khởi động xe với mục đích để chạy đi. Do không khởi động xe được nên K’ T tìm cách đấu dây điện với ổ khóa xe để khởi động xe. Trong khi đang tìm cách để nổ máy xe thì K’ T thấy có ánh đèn pin soi nên nghĩ là người nhà K’ H đang soi đèn để tìm xe thì K’ T dắt xe quay lại cổng. Khi vừa dắt xe đến cổng thì thấy có người nên K’ T bỏ xe tại đây và chạy về hướng huyện Đ, tỉnh Lâm Đồng.
Trước đó vào ngày 02/8/2018 do cần tiền tiêu xài nên K’ T nảy sinh ý định đi tìm tài sản nào sơ hở để chiếm đoạt. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày K’T đi đến phía sau nhà nghỉ M thuộc tổ dân phố Y, thị trấn Đ nhìn vào thấy vắng người nên K’ T treo qua hàng rào vào trong khuôn viên nhà nghỉ đi đến phòng đầu tiên phát hiện thấy chiếc điện thoại màu vàng đồng đang sạc pin không có người trông coi. K’ T thò tay qua cửa sổ lấy chiếc điện thoại rồi đi ra phía sau và trèo qua hàng rào đi ra ngoài. Sau đó K’ T đi đến quán Internet thuộc tổ dân phố R gặp K’ N ở cùng khu phố và nói với K’ N chở về nhà và đi tìm người mua điện thoại. Do không biết điện thoại của K’ T ăn trộm nên K’ N dẫn K’ T đi bán điện thoại cho K’ N ở cùng khu phố. K’ N xem xong điện thoại và đồng ý mua với giá 500.000đồng. Hai ngày sau khi mua điện thoại K’ N nghi ngờ điện thoại của K’ T lấy trộm mà có nên K’ N đã trả điện thoại cho K’ T và lấy lại 500.000đồng. Sau đó K’ T đi gặp K’ N để tìm người mua điện thoại. K’ N đồng ý và cầm điện thoại đi bán cho K’ H ở cùng khu phố với giá 640.000đồng. Sau khi bán được điện thoại thì K’ N đưa tiền cho K’ T. Đến ngày 20/8/2018 Công an thị trấn Đ đã thu giữ được chiếc điện thoại mà K’ T đã lấy trộm ở nhà nghỉ M.
Vật chứng thu giữ: 01 điện thoại hiệu LEAGOO M5 màu hồng nhạt.
Tại bản kết luận số 99/HĐĐG ngày 23/08/2018 của Hội đồng Định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Lâm Hà đã tiến hành định giá và xác đinh chiếc xe máy hãn hiệu Xiongghi, màu nâu, biển số 49S6- 4918 có trị giá 3.500.000đồng (Ba triệu năm trăm ngàn đồng) và chiếc điện thoại di động cảm ứng màu vàng đồng hiệu LEAGOO có trị giá 1.603.000đ.
Xử lý vật chứng: trong quá trình điều tra đã xác định được chiếc xe mô tô biển số 49S6- 4918 do K’ H là chủ sơ hữu và chiếc điện thoại hiệu LEAGOO màu vàng đồng do Phạm Nhật Q là chủ sở hữu nên cơ quan điều tra Công an huyện Lâm Hà ra quyết định xử lý vật chứng và trả cho các chủ sở hữu trên.
Tại bản cáo trạng số 41/CT-VKS ngày 10/4/2019 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà đã truy tố ra trước Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà để xét xử bị can K’T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng Viện kiểm sát truy tố, không khiếu nại hay thắc mắc gì về nội dung bản cáo trạng.
Trong phần tranh luận, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo K’T về tội:“Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173, điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự xử phạt bị cáo K’T từ 09 đến 12 tháng tù. Đối với số tiền bán điện thoại anh K’H không yêu cầu bị cáo trả lại nhưng cần tuyên buộc bị cáo phải nộp lại số tiền 640.000đồng để sung quỹ Nhà nước. Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Lâm Hà, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Lâm Hà, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Tại phiên tòa bị cáo đã khai nhận: Vào khoảng 01 giờ 00 ngày 10/8/2018 bị cáo đã có hành vi lén lút lấy trộm chiếc xe mô tô nhãn hiệu Xiongshi màu nâu biển kiểm soát 49S6 – 4918 tài sản bị cáo trộm cắp theo kết quả định giá của cơ quan chuyên môn là 3.500.000đồng. Ngoài ra bị cáo khai nhận vào ngày 02/8/2018 bị cáo cũng có hành vi lén lút lấy trộm của anh Phạm Nhật Q tại nhà nghỉ M một chiếc điện thoại nhãn hiệu LEAGOO giá trị chiếc điện thoại theo định giá của cơ quan chuyên môn là 1.603.000đồng.
Lời khai nhận tội của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với nội dung bản cáo trạng, lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai của người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, người làm chứng tang vật thu giữ cùng các tài liệu chứng cứ khác được phản ánh trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ cơ sở để Hội đồng xét xử kết luận bị cáo K’T phạm tội: “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm, thực hiện với lỗi cố ý, thể hiện quyết tâm thực hiện tội phạm đến cùng, hành vi của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác, gây nên sự nghi ngờ mất đoàn kết trong quần chúng nhân dân, đồng thời tác động xấu đến tình hình an ninh trật tự tại địa phương.
Bị cáo lợi dụng chủ sở hữu sơ hở mất cảnh giác, lén lút trộm cắp tài sản là là chiếc xe mô tô và điện thoại di động, đây là những loại tài sản có giá trị và dễ tiêu thụ. Vì vậy, bị cáo phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với hành vi mà mình đã thực hiện
Xét nhân thân bị cáo: Bị cáo là thanh niên còn trẻ, có sức khỏe nhưng lười lao động, ham chơi, thường tụ tập một số đối tượng hư hỏng tại địa phương để ăn nhậu và hút bồ đà từ đó dẫn đến việc thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo đã từng bị Tòa án nhân dân huyện Lâm Hà quyết định đưa vào trường giáo dưỡng với thời gian 24 tháng, sau khi chấp hành xong mới hòa nhập cộng đồng một thời gian ngắn, bị cáo đã liên tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, sau khi phạm tội trốn khỏi địa phương cơ quan điều tra phải ra lệnh truy nã, gây rất nhiều khó khăn cho công tác điều tra chứng tỏ bản chất bị cáo là con người không tốt, coi thường kỷ cương pháp luật. Vì vậy, cần phải cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành người tốt, sống biết tuân thủ pháp luật và răn đe phòng ngừa chung.
Tuy nhiên, khi quyết định hình phạt cần xem xét đến thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội mà bị cáo đã thực hiện, bị cáo là người đồng bào dân tộc thiểu số nên nhận thức về pháp luật còn hạn chế, tài sản của bị cáo trộm cắp đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu. Đây là những tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo được quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Đối với anh K’H là người mua chiếc điện thoại của bị cáo, khi mua anh K’H không biết chiếc điện thoại trên là do bị cáo phạm tội mà có nên không bị truy cứu trách nhiệm hình sự.
Đối với anh K’N là người chở bị cáo đi bán điện thoại, tuy nhiên anh K’N không biết điện thoại bị cáo trộm cắp mà có và anh K’N cũng không được hưởng lợi gì nên không đặt ra để xem xét.
Về trách nhiệm dân sự: Tài sản bị cáo trộm cắp là chiếc xe mô tô nhãn hiệu Xiongshi, màu nâu biển kiểm soát 49S6 – 4918 là tài sản của anh K’H và chiếc điện thoại nhãn hiệu LEAGOO là tài sản của anh Phạm Nhật Q. Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại hai chiếc xe trên cho chủ sở hữu là anh K’H và đã trả lại chiếc điện thoại cho anh Phạm Nhật Q. Tại phiên tòa hôm nay anh K’H và anh Q vắng mặt nhưng trong hồ sơ thể hiện anh K’H và anh Q không có thắc mắc hay yêu cầu gì. Vì vậy, không đặt ra để xem xét giải quyết.
Đối với chiếc điện thoại di động bị cáo trộm cắp bán cho anh K’H đã được thu hồi trả lại cho chủ sở hữu, trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay anh K’H không yêu cầu bị cáo bồi thường số tiền 640.000đồng anh đã bỏ ra để mua điện thoại nhưng đây là số tiền bị cáo thu lợi bất chính nên cần buộc bị cáo phải nộp lại số tiền này để sung vào ngân sách nhà nước.
Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Tuyên bố bị cáo K’T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự.
Xử phạt: Bị cáo K’T 12 (Mười hai) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 17/01/2019.
2. Áp dụng Điều 37 Bộ luật Hình sự
Buộc bị cáo nộp lại số tiền 640.000đồng (Sáu trăm bốn mươi nghìn đồng) để sung vào ngân sách nhà nước.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật cho đến khi thi hành án xong, người phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015 trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.
3. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí tòa án.
Buộc bị cáo phải nộp 200.000 (Hai trăm ngàn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Báo cho bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án biết có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (18/6/2019). Riêng người bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Lâm Đồng xét xử phúc thẩm.
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Lâm Đồng (02); -VKSND tỉnh Lâm Đồng; - Sở Tư pháp tỉnh Lâm Đồng; - VKS, CA huyện Lâm Hà; - Thi hành án huyện Lâm Hà; - Bị cáo; - Lưu HS - BP. | THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đỗ Mạnh Hùng |