- Tranh chấp gì? án hình sự — "Võ Thành Được - phạm tội tàng trữ, vận chuyển hàng cấm (điều 191 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tịch thu giao cơ quan Chi cục thi hành án dân huyện Đức Huệ sự xử lý 8.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị; NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2019/HS-ST Ngày: 26-8-2019 |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN ĐỨC HUỆ TỈNH LONG AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Triến.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Nguyễn Thành Hưng.
2. Ông Nguyễn Văn Tư.
- Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Minh Vũ - Cán bộ Tòa án nhân dân huyện Đức Huệ.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ tỉnh Long An tham gia phiên tòa: Ông Lý Văn Quyển - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Đức Huệ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 39/2019/TLST-HS ngày 28 tháng 6 năm 2019 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2019/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 8 năm 2019 đối với bị cáo:
Võ Thành Đ (S) - Sinh năm: 1988; tại: Long An; nơi cư trú: Ấp 1, xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An; nghề nghiệp: Không; trình độ học vấn: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Võ Văn K, sinh năm: 1959 và bà Đào Thị Ánh N, sinh năm: 1961; có vợ là: Nguyễn Võ Hồng N1, sinh năm 1990, có 02 con chung sinh năm 2008, và sinh năm 2017; tiền án, tiền sự: Không; bị bắt tạm giữ, tạm giam từ ngày 05/05/2019 đến ngày 21/06/2019, cho gia đình bảo lĩnh tại ngoại. (Có mặt)
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
1. Ông Trương Đại L - Sinh năm 1999 - Địa chỉ: Ấp 1, xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. (Có mặt)
2. Ông Ngô Minh T - Sinh năm 1992 - Địa chỉ: Ấp 1, xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An. (Có mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Ngày 04 tháng 5 năm 2019, Võ Thành Đ chủ động liên hệ đến Ngô Minh T, gần nhà Đ để xin vận chuyện thuốc lá lậu thuê cho T từ khu vực biên giới Campuchia vào nội địa để giao cho người khác. T đồng ý và thỏa thuận giá tiền công là 280.000 đồng (hai trăm tám mươi nghìn đồng) mỗi lần vận chuyển, địa điểm giao là La Cua, xã Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa, tỉnh Long An. Khoảng 20 giờ ngày 05/05/2019, T kêu Đ đi nhận thuốc lá ngoại cùng với Trương Đại L. Đ điều khiển xe mô tô Honda, loại Wave màu xanh nhớt gắn biển số 70L1-443.33 đi theo L từ đường tỉnh 838B đến đường tuần tra biên giới, vào kho thuốc lá ngoại của một người tên Nhẹ tại Campuchia. L vào kho liên hệ mua thuốc lá ngoại cho T. Sau khi mua thuốc lá xong Đ tự sắp xếp 2000 gói thuốc lá ngoại hiệu Jet lên xe của mình. Khoảng 20 phút sau Đ gọi điện cho T hỏi đường đi được không, T nói được và kêu Đ chạy đi. Đ chạy xe chở 2000 bao thuốc lá ngoại chạy về xã Mỹ Thạnh Tây. Khi đến đoạn đường vừa qua cầu Ba Lạng thuộc ấp Voi xã Mỹ Thạnh Tây thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang về hành vi vận chuyển hàng cấm, cùng bị tạm giữ còn có 03 xe mô tô khác và 6.000 bao thuốc lá ngoại do các đối tượng tẩu thoát để lại. Tại Cơ quan điều tra, Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Tang vật tạm giữ:
- 8000 bao thuốc lá ngoại (trong đó: 2.000 bao thuốc lá ngoại hiệu Jet do Đ vận chuyển, 4.000 bao thuốc lá ngoại hiệu Jet và 2.000 Hero do các đối tượng khác bỏ lại).
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh gắn biển số 70L1-443.33 do Đ sử dụng vận chuyển thuốc lá lậu. Kết luận giám định ngày số 221/2019/KLGĐ ngày 15/5/2019 xác định số khung: phát hiện bị cắt, hàn, ghép. số máy:JA02E-0307138 không bị đục sửa. 03 xe mô tô do các đối tượng bỏ lại hiện trường gồm:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ gắn biển số 52N9-6188. Kết luận giám định ngày số 229/2019/KLGĐ ngày 21/5/2019 xác định số khung: NF110M-0038428. số máy: NF110ME-0038428 không bị đục sửa.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đen gắn biển số 51T7-5366. Kết luận giám định ngày số 230/2019/KLGĐ ngày 21/5/2019 xác định số khung: RLHHC080X..., bị mài xóa. số máy: HC09E-0043358, không bị đục sửa.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream, màu nâu gắn biển số 62K7-8562. Kết luận giám định ngày số 231/2019/KLGĐ ngày 21/5/2019 xác định số khung: RLHHA…, bị mài xóa. số máy: bị đục sửa, không đọc được.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen, số sim: 0917.905.408 do Đ sử dụng phạm tội.
Cơ quan Cảnh sát điều tra sau khi giám định đã thông báo tìm chủ sở hữu đối với 04 xe máy nói trên đã hết thời gian thông báo, tuy nhiên không tìm được chủ sở hữu.
Đối với Ngô Minh T có hành vi thuê Đ và Trương Đại L có hành vi mua thuốc lá ngoại giao cho Đ, do quá trình làm việc không đủ cơ sở để xác định hành vi phạm tội của các đối tượng nên Cơ quan điều tra tách ra tiếp tục làm rõ, xử lý sau.
Cáo trạng số: 40/CT-VKS-ĐH ngày 26 tháng 6 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Võ Thành Đ về tội “Vận chuyển hàng cấm” theo điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ sau khi phân tích tính chất của hành vi và hậu quả xảy ra, đề nghị Hội đồng xét xử.
Tuyên bố bị cáo Võ Thành Đ phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”.
Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; Điều 32, Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Võ Thành Đ từ 09 đến 12 tháng tù, cho hưởng án treo. Thời gian thử thách từ 18 đến 24 tháng.
Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- Đề nghị tịch thu giao cơ quan Thi hành án dân sự huyện Đức Huệ xử lý: 8000 bao thuốc lá ngoại (trong đó: 2000 bao thuốc lá ngoại hiệu Jet do bị cáo Đ vận chuyển, 4000 bao thuốc lá ngoại hiệu Jet và 2000 bao thuốc lá ngoại hiệu Hero do các đối tượng khác bỏ lại) do nước ngoài sản xuất không chứng hóa đơn xuất xứ hàng hóa, không xác định chủ sở hữu.
Đề nghị tịch thu sung công:
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh gắn biển số 70L1-443.33, số khung: không đọc được, số máy: JA02E-0307138 của bị cáo Đ sử dụng phạm tội.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ gắn biển số 52N9-6188, số khung: không đọc được, số máy: HC09E-0043358.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đen gắn biển số 51T7-5366, số khung: không đọc được, số máy: không đọc được.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream, màu nâu gắn biển số 62K7-8562, số khung: không đọc được, số máy: không đọc được.
04 xe nói trên không xác định được chủ sở hữu sau khi đã thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng truy tìm chủ sở hữu, các xe này cùng vận chuyển hàng cấm và bị bắt quả tang.
- 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen, số sim: 0917.905.408 do bị cáo Đ dùng liên lạc khi thực hiện hành vi phạm tội. Người có quyền lợi, nghĩa vụ có liên quan:
- Ông Ngô Minh T tại phiên tòa và trong lời khai trình bày không có thuê bị cáo Võ Thành Đ vận chuyển hàng cấm, không biết số thuốc lá và các xe nói trên của ai.
- Ông Trương Đại L tại phiên tòa và trong lời khai trình bày không có mua thuốc lá giao bị cáo Võ Thành Đ vận chuyển, không biết số thuốc lá và các xe nói trên. Nói lời sau cùng trước khi Hội đồng xét xử vào phòng nghị án: Bị cáo biết việc làm là vi phạm pháp luật, ăn năn hối cải, hứa không tài phạm, xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ, vợ không có việc làm ổn định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau: [1] Vào ngày 05/5/2019 (khoảng 20 giờ 00 phút), Võ Thành Đ nhận lời vận chuyển thuê thuốc lá cho ngưới khác nên dùng 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh nhớt, gắn biển số 70L1-443.33(kết luận giám định số 221/2019/KLGĐ ngày 15/5/2019 xác định số khung: phát hiện bị cắt, hàn, ghép; số khung: JA02E-0307138 không bị đục sửa) vận chuyển 2000 bao thuốc ngoại hiệu Jet, từ biên gới Việt Nam - Campuchia ở khu vực ấp Vinh, xã Mỹ Thạnh Tây, huyện Đức Huệ về xã Hiệp Hòa, huyện Đức Hòa không có chứng từ hóa đơn xuất xứ hàng hóa về số thuốc lá 2000 bao với múc đích vận chuyển thuê ăn tiền công 280.000 đồng/chuyến (chưa nhận tiền). Khi bị cáo Đ vận chuyển số thuốc lá ngoại trên đến khu vực ấp Voi, xã Mỹ Thạnh Tây, huyện Đức Huệ thì bị lực lượng chức năng bắt quả tang người và tang vật. [2] Các quyết định khởi tố vụ án, khởi tố bị can của cơ quan cảnh sát điều tra và quyết định phê chuẩn khởi tố bị can và cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ truy tố bị cáo điều thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Hành vi tố tụng của Điều tra viên, kiểm sát viên điều thực hiện đúng và hợp pháp. [3] Tại phiên toà, bị cáo Võ Thành Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với các lời khai người làm chứng, người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan biên bản bắt người phạm tội quả tang do công an huyện Đức Huệ tỉnh Long An lập lúc 22 giờ 40 phút, ngày 05/5/2019 và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa. Trên cơ sở đó đã có đủ bằng chứng để kết luận rằng bị cáo Võ Thành Đ phạm vào tội “Vận chuyển hàng cấm” tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 1 Điều 191 Bộ luật hình sự 2015. Như vậy, cáo trạng số: 40/CT-VKS-ĐH ngày 26 tháng 6 năm 2019 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Đức Huệ đã truy tố bị cáo Võ Thành Đ với tội danh và điều luật nêu trên là có cơ sở đúng theo quy định của pháp luật.
Hành vi của bị cáo Võ Thành Đ là nguy hiểm cho xã hội, làm ảnh hưởng đến trật tự quản lý kinh tế của Nhà nước, bị cáo là người đã thành niên thực hiện với lỗi cố ý là do ham thu lợi nên từ đó bị cáo nhận lời vận chuyển hàng hóa thuốc lá ngoại không có chứng từ hóa đơn xuất xứ hàng hóa từ khu vực biên giới Việt Nam - Campuchia (âp Vinh, xã Mỹ Thạnh Tây, huyện Đức Huệ) về huyện Đức Hòa, tỉnh Long An với số lượng 2000 bao. Hành vi này của bị cáo Đ phải được xử lý nghiêm, xét thấy bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, bản thân chưa có tiền án, tiền sự, là lao độnh chính trong gia đình nên không cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội mà dưới sự giám sát giáo dục của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dụng và phòng ngừa.
Xét thấy bị cáo Võ Thành Đ trong quá trình truy tố và xét xử thật thà khai báo, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng bản thân chưa có tiền án tiền sự, mới vận chuyển thuê lần đầu, bị cáo là lao động chính trong gia đình con còn nhỏ, là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, do đó khi lượng hình cũng cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Xét đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về mức hình phạt đối với bị cáo Võ Thành Đ là có cơ sở theo quy định pháp luật.
Đối với người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Ngô Minh T và ông Trương Đại L tại phiên tòa, trình bày không có thuê hay mua hàng cấm cho bị cáo Võ Thành Đ vận chuyển, không liên quan đến số xe đã tạm giữ và số thuốc lá nên không xem xét trong vụ án này.
Về các biện pháp tư pháp: Căn cứ vào khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.
- 8.000 bao thuốc lá ngoại (6.000 bao thuốc lá ngoại hiệu Jet, 2.000 bao thuốc lá ngoại hiệu Hero) do nước ngoài sản xuất không có chứng hóa đơn xuất xứ hàng hóa, không xác định chủ sở hữu. Theo quy định tại quyết định số 20/2018/QĐ-TTg ngày 26/4/2018 của Chính phủ thì hiện nay tạm dừng tiêu hủy thuốc lá ngoại nhập lậu theo quyết định số 2371/QĐ-TTg ngày 26/12/2014 nên tịch thu giao cho cơ quan Chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ xử lý theo quy định chung
- 04 xe mô tô đã thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng nhưng không xác định chủ sở hữu, bị mài xóa số máy, số khung (thay đổi đặc trưng) nên cần phải tịch thu sung công gồm:
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh gắn biển số 70L1-443.33, số khung: không đọc được, số máy: JA02E-0307138 của Đ sử dụng phạm tội. + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ gắn biển số 52N9-6188, số khung: không đọc được, số máy: HC09E-0043358. + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đen gắn biển số 51T7-5366, số khung: không đọc được, số máy: không đọc được. + 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream, màu nâu gắn biển số 62K7-8562, số khung: không đọc được, số máy: không đọc được.
- Đối với 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen, số sim: 0917.905.408 do bị cáo Đ dùng liên lạc khi thực hiện hành vi phạm tội nên tịch thu sung công quỹ Nhà nước. Đối với tiền thu lợi bất chính bị cáo chưa nhận tiền công vận chuyển 208.000đ/ chuyến nên không đề cặp thu hồi lại. Tang vật hiện do chi cục thi hành án dân sự huyện Đức Huệ đang quản lý [9] Đối với những người giới thiệu, người thuê bị cáo, người giao nhận thuốc cho bị cáo, cùng một số người khác mua hàng cấm không xác định được nhân thân, lai lịch, địa chỉ, không làm việc được. Cơ quan CSĐT tiếp tục thẩm tra, xác minh đề xuất xử lý sau, nên không đề cập xử lý trong vụ án này là phù hợp. Nhằm bỏ lọt tội phạm không được xử lý, kiến nghị cơ quan điều tra tiếp tục điều tra xác minh để xử lý sau theo qui định của pháp luật. [10] Bị cáo Võ Thành Đ phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật. Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ: điểm b khoản 1 Điều 191, điểm i, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51; Điều 32, Điều 65 của Bộ luật hình sự; Các Điều 106, Điều 135, Điều 136, Điều 299, Điều 326, Điều 329 Bộ luật Tố tụng Hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí lệ phí Tòa án. 2. Tuyên bố bị cáo Võ Thành Đ phạm tội “Vận chuyển hàng cấm”. 3. Xử phạt bị cáo Võ Thành Đ 01 (một) năm tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 02 (hai) năm tính từ ngày tuyên án (ngày 26/8/2019). Giao bị cáo Võ Thành Đ về Ủy ban nhân dân xã Mỹ Thạnh Bắc, huyện Đức Huệ, tỉnh Long An theo dõi, giáo dục trong thời gian thi hành án treo. Trong thời gian thi hành án treo bị cáo Võ Thành Đ có 02 lần vi phạm nghĩa vụ của án treo thì chuyển hình phạt tù cho hưởng án treo sang tù có thời hạn. 4. Về các biện pháp tư pháp:
- Tịch thu giao cơ quan Chi cục thi hành án dân huyện Đức Huệ sự xử lý 8.000 bao thuốc lá ngoại (6.000 bao thuốc lá ngoại hiệu Jet, 2.000 bao thuốc lá ngoại hiệu Hero) theo quy định hiện hành (quyết định số 20/2018/QĐ-TTg ngày 26/4/2018 của Chính phủ).
- Tịch thu sung công:
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu xanh gắn biển số 70L1-443.33, số khung: không đọc được, số máy: JA02E-0307138 của Đ sử dụng phạm tội.
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đỏ gắn biển số 52N9-6188, số khung: không đọc được, số máy: HC09E-0043358.
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu đen gắn biển số 51T7-5366, số khung: không đọc được, số máy: không đọc được.
+ 01 xe mô tô nhãn hiệu Honda, loại Dream, màu nâu gắn biển số 62K7-8562, số khung: không đọc được, số máy: không đọc được.
+ 01 điện thoại di động hiệu Nokia 105, màu đen, số sim: 0917.905.408 đã qua sử dụng.
5. Về án phí: Buộc bị cáo Võ Thành Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm sung vào công quỹ Nhà nước.
6. Bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ có liên quan có quyền kháng cáo bản án theo thủ tục phúc thẩm trong thời hạn 15 ngày tính từ ngày tuyên án (ngày 26/8/2019).
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Long An; - VKSND tỉnh Long An; - VKSND huyện Đức Huệ; - Công an huyện Đức Huệ; - CC.THADS huyện Đức Huệ; - Bị cáo; người liên quan; - Hồ sơ THAHS; - Lưu hồ sơ, án văn; | Nguyễn Văn Triến |