- Tranh chấp gì? án hình sự — "Đoàn Thanh H phạm tội “Giết người” - phạm tội giết người (điều 123 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Thanh H.
- Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 123 Bộ luật Hình sự; Điều 355 Bộ luật Tố tụng hình sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2019/HS-PT Ngày 22 - 01 - 2019 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa:
Ông Trương Văn Bình
Các Thẩm phán:
Bà Đinh Ngọc Thu Hương
Ông Trần Xuân Minh
- Thư ký phiên tòa: Bà Tiếu Phương Quyền - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh: Bà Cao Thị Hạnh - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.
Ngày 22 tháng 01 năm 2019, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 669/2018/TLPT-HS ngày 21 tháng 11 năm 2018 đối với bị cáo Đoàn Thanh H. Do có kháng cáo của bị cáo đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 19/2018/HS-ST ngày 11-10-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 08/2019/QĐXXPT-HS ngày 03 tháng 01 năm 2018.
- Bị cáo có kháng cáo: Đoàn Thanh H, sinh năm 1983, tại huyện C, tỉnh Trà Vinh. Nơi ĐKHKTT: Ấp R1, xã R2, huyện C, tỉnh Trà Vinh. Chỗ ở: Ấp R3, xã R4, huyện C1, tỉnh Trà Vinh. Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 5/12; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; con ông Đoàn Minh C2, sinh năm 1957 và bà Tôn Thị N, sinh năm 1960; có vợ: Thạch Thị Mỹ H1, sinh năm 1996; có con 01 người sinh năm 2017; Tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Tốt; Bị cáo bị tạm giữ ngày 29/01/2018 sau đó chuyển tạm giam cho đến nay (bị cáo có mặt tại phiên tòa).
- Những người tham gia tố tụng khác có kháng cáo hoặc có liên quan đến kháng cáo, kháng nghị:
- Người bào chữa cho bị cáo: Luật sư Đoàn Trọng N1, thuộc Đoàn Luật sư Thành phố Hồ Chí Minh (Có mặt).
(Ngoài ra vụ án còn có 03 người đại diện theo pháp luật của bị hại: Nguyễn Thị C3 (mẹ của bị hại), Phạm Thị N2 (vợ của bị hại), Trần Thanh T (con của bị hại); 03 người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Đoàn Minh C2 (cha của bị cáo), Tôn Thị N (mẹ của bị cáo), Thạch Thị Mỹ H1 (vợ của bị cáo), không có kháng cáo, kháng nghị, không liên quan kháng cáo Tòa án không triệu tập).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 06 giờ 30 phút ngày 28/01/2018, bị cáo Đoàn Thanh H đi làm thuê (cưa củi) cùng với anh Nguyễn Văn L, tại vườn anh Nguyễn Văn D (CD), sinh năm 1968, ngụ ấp 3, A1, huyện K, tỉnh Trà Vinh. Khoảng 15 giờ cùng ngày, sau khi cưa củi xong anh CD đã tổ chức uống rượu, 03 người gồm anh Dững, anh L và bị can Đoàn Thanh H uống hết khoảng 1,5 lít rượu thì nghỉ.
Đến khoảng 16 giờ 20 phút, anh L chở H về. Trên đường về khi đến Hương lộ 8, đoạn thuộc ấp 2, A1, huyện K, tỉnh Trà Vinh. Bị cáo H yêu cầu anh L dừng xe để đi tiểu. Anh L dừng xe cặp lề phải hướng từ ấp 2 đi chợ Phong Thạnh, bị cáo H đi vào phía sau khu vực bụi tre cách xe anh L khoảng 10 mét để tiểu còn anh L vẫn ngồi trên xe đợi bị cáo H. Lúc này, có anh Trần Văn M đi qua trong trạng thái say rượu đi từ hướng chợ Phong Thạnh về ấp 2 A1. Khi đi ngang qua chỗ anh L, thấy anh L đang ngồi trên xe, anh M đi qua lộ đứng gần anh L nói chuyện có cử chỉ vừa nói vừa quơ tay qua lại. Thấy vậy, anh L kêu anh M về nghỉ. Khi đó, bị cáo Đoàn Thanh H vừa đi vệ sinh xong trở lại nhìn thấy anh M và anh L đang nói chuyện (giữa bị cáo H và anh M chưa từng quen biết nhau). Nghĩ rằng anh L bị anh M đánh nên bị cáo H đi tới phía bên trái xe mô tô anh L đang đậu và hỏi anh M “Mày định làm gì”, anh M không trả lời mà tiếp tục quơ tay qua lại. Lúc này, bị cáo H bước đến dùng tay phải gạt tay anh M, tay trái nắm lấy khuỷu chân trái của anh M giật mạnh làm anh M té xuống lộ nhựa ở tư thế ngồi. Lúc này, chị Thạch Thị Ma R đang quét sân cách chỗ bị cáo H khoảng 15 mét nhìn thấy la lên “Dừng lại, đừng có đánh người ta nữa”. Bị cáo H không nói gì, cùng lúc này anh M chống tay đứng dậy và có cử chỉ quơ tay qua lại, bị cáo H tiếp tục đánh gối phải về trước trúng vào phần bụng của anh M, anh M ngã ngửa về phía sau. Tiếp tục, bị cáo H dùng 02 tay nắm lấy 02 khuỷu chân của anh M kéo lên rồi đẩy mạnh về phía trước làm anh M té ngã ngửa sang bên kia lộ nhựa, đầu anh M đập xuống lộ nhựa nằm bất động cách chổ bị cáo H đứng là 4,2m. Thấy vậy, anh L kêu bị cáo H “Thôi, mày đừng có làm vậy, tao còn mần ăn ở đây”. Sau đó, anh L chở bị cáo H chạy về nhà. Anh Trần Văn M được gia đình đưa đi cấp cứu nhưng đã tử vong.
Tại bản kết luận giám định pháp y số: 26/KLGĐ(PY) ngày 01/02/2018 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Trà Vinh kết luận: Nguyên nhân dẫn đến nạn nhân tử vong là do chấn thương sọ não nặng.
- Về vật chứng: Cơ quan điều tra không thu giữ vật chứng.
Tại bản cáo trạng số: 18/CT-VKS-P1 ngày 14/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh đã quyết định truy tố Đoàn Thanh H về tội “giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự khung hình phạt từ4 12 đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình.
Tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo Đoàn Thanh H khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội mặc dù không có mâu thuẫn với bị hại nhưng bị cáo đã thực hiện hành vi đánh anh Trần Văn M dẫn đến anh M bị chấn thương sọ não chết như nội dung cáo trạng truy tố và xin được giảm nhẹ hình phạt.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 19/2018/HS-ST ngày 11-10-2018 của Tòa án nhân dân tỉnh Trà Vinh đã quyết định:
Tuyên bố bị cáo Đoàn Thanh H phạm tội “Giết người”.
- Căn cứ: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Đoàn Thanh H 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/01/2018.
Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 584, 586, 589, khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
Công nhận sự tự nguyện thỏa thuận giữa bị cáo Đoàn Thanh H và những người đại diện hợp pháp cho bị hại
Buộc bị cáo Đoàn Thanh H tiếp tục bồi thường cho bà Nguyễn Thị C3, bà Phạm Thị N2, anh Trần Thanh T tổng số tiền 118.174.000đ (Một trăm mười tám triệu một trăm bảy mươi bốn ngàn đồng). Bà C3, anh T thỏa thuận để cho bà Phạm Thị N2 đại diện nhận.
Ngoài ra, án sơ thẩm còn tuyên về tiền lãi do chậm thi hành án, về án phí, quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 20-10-2018, bị cáo Đoàn Thanh H có đơn kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Bị cáo Đoàn Thanh H thay đổi kháng cáo yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại toàn bộ nội dung vụ án, cho rằng bị cáo không có hành vi côn đồ, bị cáo không có mục đích giết người, quá trình điều tra và tại phiên tòa sơ thẩm bị cáo nhận tội là do bối rối, nay bị cáo yêu cầu xem xét lại cho bị cáo. Ngoài ra bị cáo yêu cầu xem xét gia đình bị cáo có công với cách mạng. Bị cáo xin giảm nhẹ hình phạt theo trình bày tại phiên tòa phúc thẩm.
Đại diện Viện kiểm sát, sau khi phân tích các chứng cứ có ở hồ sơ và lời trình bày của bị cáo tại phiên tòa phúc thẩm, đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của bị cáo và giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Luật sư bào chữa cho bị cáo thống nhất về tội danh, thống nhất các tình tiết giảm nhẹ án sơ thẩm đã nêu, ngoài ra bị cáo còn các tình tiết giảm nhẹ khác như bị cáo có con nhỏ, bị cáo là lao động chính, bị cáo phạm tội lần đầu, có ông ngoại có công với cách mạng, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của bị cáo, áp dụng khoản 2 Điều 51 sửa án sơ thẩm, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa phúc thẩm, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo không thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nêu trong bản án sơ thẩm nhưng bị cáo thừa nhận hành vi của bị cáo làm chết bị hại. Xem xét lời khai của bị cáo tại Cơ quan điều tra, lời khai của người làm chứng, lời khai của bị cáo tại phiên tòa sơ thẩm và các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, thể hiện: Vào khoảng 16 giờ 20 phút ngày 28/01/2018, tại khu vực ấp 2, A1, huyện K, tỉnh Trà Vinh, trên đường đi làm thuê về bị cáo Đoàn Thanh H đã có hành vi dùng 02 tay nắm lấy 02 khuỷu chân của anh Trần Văn M đỡ lên và đẩy mạnh về phía trước làm anh M té ngữa đầu đập xuống lộ nhựa, hậu quả làm anh M tử vong, bị cáo đã có hành vi cố ý xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của bị hại và hậu quả anh M chết là do hành vi cố ý của bị cáo. Do đó, có cơ sở kết luận hành vi của bị cáo đủ cơ sở cấu thành tội “Giết người” theo quy định tại điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự, án sơ thẩm đã xử là có căn cứ đúng pháp luật.
Về tố tụng các Quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, của người bào chữa trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, thấy rằng các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng, của người bào chữa đều đúng quy định pháp luật, những người tham gia tố tụng không có khiếu nại hoặc có ý kiến nào khác phản đối các quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền tiến hành tố tụng nên các quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng và hành vi của người có thẩm quyền của người tiến hành tố tụng của người bào chữa đều hợp pháp.
Xét tính chất của vụ án là đặc biệt nghiêm trọng; Hành vi phạm tội của bị cáo Đoàn Thanh H là đặc biệt nguy hiểm cho xã hội, bị cáo không hề có mâu thuẫn với bị hại anh Trần Văn M và anh M do say rượu chỉ có cử chỉ quơ tay qua lại không hề trúng vào bị cáo, nhưng bị cáo cố ý dùng hai tay nắm lấy 02 khuỷu chân của anh M đở lên và đẩy mạnh về phía trước làm anh M té ngữa đầu đập xuống lộ nhựa, hậu quả làm anh M tử vong. Giữa bị cáo và người bị hại không quen biết, không mâu thuẫn nhưng do xem thường tính mạng người khác nên chỉ vì hành vi quơ tay qua lại của bị hại mà bị cáo thực hiện hành vi gây ra cái chết cho bị hại, thể hiện hành vi của bị cáo mang tính chất côn đồ, cần phải xử lý nghiêm để răn đe, giáo dục đối với bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội.
Khi quyết định hình phạt đối với bị cáo Đoàn Thanh H cần xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo để đánh giá đúng với bản chất của vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo 01 cách toàn diện. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng, bị cáo có các tình tiết giảm nhẹ cần xem xét như: Bị cáo có nhân thân tốt, có con nhỏ, lao động chính, chưa có tiền án, tiền sự, thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, bị cáo có tác động gia đình khắc phục 01 phần hậu quả cho phía gia đình bị hại số tiền 10.000.000đồng, ông ngoại của bị cáo tên Tôn Tấn L có công với cách mạng được Nhà nước tặng huy chương kháng chiến. Bị cáo có nhiều tình tiết để giảm nhẹ cấp sơ thẩm đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ được quy định tại điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự là đầy đủ. Do đó án sơ thẩm đã xử bị cáo 18 năm tù là đúng pháp luật cần được giữ nguyên, chấp nhận đề nghị của Viện kiểm sát, không chấp nhận kháng cáo của bị cáo và đề nghị của luật sư.
Các quyết định của bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự, về án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự phúc thẩm theo quy định pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào điểm a khoản 1 Điều 355 Bộ luật tố tụng hình sự.
Không chấp nhận kháng cáo của bị cáo Đoàn Thanh H.
Giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Tuyên bố bị cáo Đoàn Thanh H phạm tội “Giết người”.
Căn cứ: điểm n khoản 1 Điều 123; điểm b, s khoản 1, 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt: Bị cáo Đoàn Thanh H 18 (mười tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 29/01/2018.
Tiếp tục giam bị cáo Đoàn Thanh H để đảm bảo thi hành án.
Án phí phúc thẩm: Buộc bị cáo Đoàn Thanh H phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự phúc thẩm.
Các Quyết định khác của bản án sơ thẩm về trách nhiệm dân sự, về án phí sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
| Nơi nhận: - Tòa án nhân dân tối cao (1); - Viện kiểm sát nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh (1); - TAND tỉnh Trà Vinh (1); - VKSND tỉnh Trà Vinh (1); - Công an tỉnh Trà Vinh (1); - Sở tư pháp tỉnh Trà Vinh (1); - Cục THA DS tỉnh Trà Vinh (1); - Trại tạm giam Công an tỉnh Trà Vinh (1); “Để tống đạt cho bị cáo” (1); - Lưu hồ sơ vụ án (3). 14b. (TPQ). | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trương Văn Bình |