vanban.org

Bản án 40/2019/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

1/Căn cứ vào: khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 235 Bộ Luật Tố tụng dân sự; khoản 01 Điều 51, khoản 01 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. 2/Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Tuyết P. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "xin ly hôn, con chung, tài sản chung"
  • Tòa quyết gì? 1/Căn cứ vào: khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 235 Bộ Luật Tố tụng dân sự; khoản 01 Điều 51, khoản 01 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
  • Căn cứ chính? NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ PHAN THIẾT
TỈNH BÌNH THUẬN

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2019/HNGĐ - ST
Ngày: 06/6/2019.
(V/v: Ly hôn, nuôi con chung)

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ PHAN THIẾT

TỈNH BÌNH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có :

Thẩm phán – Chủ toạ phiên toà: Bà Vũ Thị Thu Hà.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông: Nguyễn Bính.

2. Bà: Lê Thị Kiều Thu.

- Thư ký Toà án ghi biên bản phiên toà: Bà Ngô Thái Hà - Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết: Ông Ngô Quang Chính – Kiểm sát viên.

Ngày 06 tháng 6 năm 2019 tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 239/2019/TLST- HNGĐ ngày 24/4/2019 “V/v: Ly hôn, nuôi con chung” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 114/2019/QĐST – HNGĐ ngày 03/5/2019 và quyết định hoãn phiên tòa số 142/2019/QĐST – HNGĐ ngày 20/5/2019 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Hoàng Thị Tuyết P, sinh năm 1992. Nơi cư trú: KP 02, phường BH, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

- Bị đơn: Ông Nguyễn Mai Thanh T, sinh năm 1982. Nơi cư trú: KP 02, phường BH, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận.

Tại phiên tòa có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

*Theo đơn khởi kiện ngày 19 tháng 4 năm 2019, bản tự khai ngày 25/4/22019 và trong quá trình xét xử nguyên đơn bà Hoàng Thị Tuyết P trình bày:

-Về quan hệ hôn nhân: bà và ông T tự nguyện tìm hiểu chung sống vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Lương Sơn, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận. Ông bà chung sống hạnh phúc được vài năm đầu thì phát sinh mâu thuẫn do ông T bài bạc, cá độ bóng đá thua tiền gần 200.000.000 đồng, vợ chồng phải vay mượn bà con hàng xóm để trả nợ nhưng ông T không hồi tâm chuyển ý mà vẫn tiến hành chơi cờ bạc dẫn đến tiếp tục mắc nợ, không những thế ông T còn ghen tuông, đánh đập bà nhiều lần có thương tích, do sống không được nên từ tháng 1/2019 bà và ông T tự sống ly thân cho đến nay. Nay bà xác định tình cảm vợ chồng không còn yêu cầu được ly hôn với ông Nguyễn Mai Thanh T.

- Về con chung: có 2 con chung Nguyễn Hoàng Anh K, sinh ngày 02/10/2008 và Nguyễn Hoàng Ngọc H, sinh ngày 16/02/2016.

Nay ly hôn, bà yêu cầu nuôi con Nguyễn Hoàng Ngọc H, sinh ngày 16/02/2016, ông T nuôi con Nguyễn Hoàng Anh K, sinh ngày 02/10/2008. Không bên nào cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.

- Về tài sản chung và nợ chung: bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Tại phiên tòa, bà P trình bày: bà vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện xin ly hôn với ông Nguyễn Mai Thanh T vì vợ chồng đã sống ly thân thời gian đã lâu nên không còn tình cảm nữa. Về con chung bà vẫn giữ nguyên cầu nuôi con Ngọc Hân, còn con Anh K giao cho ông T nuôi dưỡng. Về tài sản chung và nợ chung: bà không yêu cầu Tòa án giải quyết.

*Theo bản tự khai ngày 25/4/2019 và trong quá trình giải quyết bị đơn ông Nguyễn Mai Thanh T trình bày:

- Về quan hệ hôn nhân: ông và bà Hoàng Thị Tuyết P tự tìm hiểu kết hôn vào năm 2010, có đăng ký kết hôn tại UBND thị trấn Lương Sơn, huyện Bắc Bình, Bình Thuận. Ông bà chung sống hạnh phúc thời gian đầu, năm 2015 do ông chơi bài bạc dẫn đến nợ nần, thời gian sau này ông đã khắc phục sữa chữa trả nợ cho người ta và đã khắc phục hoàn toàn không cờ bạc nữa và làm ăn đàng hoàng cho đến nay nhưng vợ ông không còn tin ông nữa và đòi ly hôn. Nay ông vẫn muốn vợ chồng hàn gắn nhưng bà P không đồng ý thì ông cũng đồng ý ly hôn.

- Về con chung: có 2 con Nguyễn Hoàng Anh K, sinh ngày 02/10/2008 và Nguyễn Hoàng Ngọc H, sinh ngày 16/02/2016.

Nay ly hôn, ông nuôi con Nguyễn Hoàng Anh K, sinh ngày 02/10/2008, giao con Nguyễn Hoàng Ngọc H, sinh ngày 16/02/2016 cho bà P nuôi dưỡng, không bên nào cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.

- Về tài sản chung và nợ chung: ông không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Vụ án đã được Tòa án hòa giải không thành.

Ngày 26/4/2019, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành như sau:

- Về quan hệ hôn nhân: bà Hoàng Thị Tuyết P và ông Nguyễn Mai Thanh T thuận tình ly hôn.

- Về con chung: giao con Nguyễn Hoàng Ngọc H, sinh ngày 16/02/2016 cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con Nguyễn Hoàng Anh K, sinh ngày 02/10/2008 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.

Bà P, ông T có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng và giáo dục con chung.

- Về tài sản chung và nợ chung: bà P, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Về án phí: bà P tự nguyện nộp 150.000 đồng án phí về hôn nhân và gia đình.

Ngày 02/5/2019, ông Nguyễn Mai Thanh T có đơn yêu cầu hủy bỏ ý kiến biên bản hòa giải thành 26/4/2019.

Tại phiên tòa vắng mặt ông Nguyễn Mai Thanh T.

Sau khi những người tham gia tố tụng phát biểu tranh luận và đối đáp, vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Phan Thiết phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký, của những người tham gia tố tụng, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng trình tự, thủ tục do Bộ Luật tố tụng dân sự quy định và đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, về con chung giao con Nguyễn Hoàng Ngọc H, sinh ngày 16/02/2016 cho bà P trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con Nguyễn Hoàng Anh K, sinh ngày 02/10/2008 cho ông T trực tiếp nuôi dưỡng, không bên nào cấp dưỡng nuôi con cho bên nào, về tài sản chung và nợ chung: bà P, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xét.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu hồ sơ và các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:

Về thủ tục tố tụng: thẩm quyền giải quyết vụ án, phía bị đơn ông Nguyễn Mai Thanh T có nơi cư trú tại KP 02, phường BH, thành phố Phan Thiết, tỉnh Bình Thuận. Căn cứ theo qui định tại khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39 Bộ Luật tố tụng dân sự, yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Tuyết P về việc“Ly hôn, nuôi con chung” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết.

Tại phiên tòa hôm nay ông Nguyễn Mai Thanh T vắng mặt, do đó Tòa án vẫn tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 02 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung khởi kiện: Xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Hội đồng xét xử nhận thấy:

Quan hệ hôn nhân giữa bà Hoàng Thị Tuyết P và ông Nguyễn Mai Thanh T là hợp pháp vì ông bà chung sống có đăng ký kết hôn vào ngày 24/6/2010 tại UBND thị trấn Lương Sơn, huyện Bắc Bình, tỉnh Bình Thuận theo giấy chứng nhận kết hôn số 83.Trong quá trình chung sống hạnh phúc thời gian đầu, thời gian sau này mâu thuẫn phát sinh do ông T có chơi cờ bạc dẫn đến nợ nần, vợ chồng gây gỗ cãi nhau ông T có hành vi đánh bà P. Từ năm 2018, bà P và ông T sống ly thân cho đến nay. Ngày 26/4/2019, Tòa án nhân dân thành phố Phan Thiết lập biên bản ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành giữa bà P và ông T, ngày 02/5/2019 ông T có đơn thay đổi ý kiến đối với biên bản hòa giải thành lập ngày 26/4/2019 với lý do yêu cầu Tòa án hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ. Hội đồng xét xử nhận thấy, ông T cho rằng vẫn còn yêu thương vợ mong muốn hàn gắn đoàn tụ nhưng thực tế cho thấy từ ngày bà P và ông T sống ly thân, tình cảm vợ chồng không cải thiện được, ông bà vẫn mạnh ai nấy sống không quan tâm nhau nữa. Ông T cho rằng vẫn còn thương vợ thì đây chỉ là lời khai nại của ông T.

Tại phiên tòa hôm nay, mặc dù đã triệu tập hợp lệ đến Tòa để xét xử nhưng ông T vẫn vắng mặt không có lý do, điều này chứng tỏ rằng ông T cũng không tha thiết mong muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng, do vậy để đảm bảo quyền lợi ích chính đáng cho bà P nên chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của bà P là đúng theo quy định Luật hôn nhân và gia đình.

Về con chung: có 2 con chung Nguyễn Hoàng Anh K, sinh ngày 02/10/2008 và Nguyễn Hoàng Ngọc H, sinh ngày 16/02/2016. Tại phiên tòa, bà P yêu cầu nuôi con Ngọc H, giao con Anh K cho ông T nuôi dưỡng. Hội đồng xét xử nhận thấy, hiện nay các cháu đang có cuộc sống ổn định, và nguyện vọng của cháu K cũng muốn ở với ba nên tiếp tục giao cháu Nguyễn Hoàng Ngọc H, sinh ngày 16/02/2016 cho bà P nuôi dưỡng, giao cháu Nguyễn Hoàng Anh K, sinh ngày 02/10/2008 cho ông T nuôi dưỡng, không bên nào cấp dưỡng nuôi con cho bên nào là phù hợp. Về tài sản chung và nợ chung: bà P, ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết nên hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: bà Hoàng Thị Tuyết P phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

1/Căn cứ vào: khoản 01 Điều 28, điểm a khoản 01 Điều 35, điểm a khoản 01 Điều 39, Điều 227, Điều 228, Điều 233, Điều 235 Bộ Luật Tố tụng dân sự; khoản 01 Điều 51, khoản 01 Điều 56, Điều 57, Điều 58, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.

- Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội về quy định mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

2/Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Hoàng Thị Tuyết P.

Về quan hệ hôn nhân: Bà Hoàng Thị Tuyết P được ly hôn với ông Nguyễn Mai Thanh T.

Về con chung: giao con Nguyễn Hoàng Ngọc H, sinh ngày 16/02/2016 cho bà Hoàng Thị Tuyết P tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Giao con Nguyễn Nguyễn Hoàng Anh K, sinh ngày 02/10/2008 cho ông Nguyễn Mai Thanh T tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng. Không bên nào cấp dưỡng nuôi con cho bên nào.

Ông T, bà P có quyền, nghĩa vụ trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung.

3/ Về án phí: Bà Hoàng Thị Tuyết P nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm về hôn nhân và gia đình. Bà P đã nộp đủ án phí dân sự sơ thẩm theo biên lai số 0027470 ngày 24/4/2019 của Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Phan Thiết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6,7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Án xử công khai có mặt nguyên đơn, vắng mặt bị đơn. Quyền kháng cáo của nguyên đơn là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (06/6/2019). Quyền kháng cáo của bị đơn là 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án tại địa phương.

Cỡ chữ