- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Tranh chấp ly hôn"
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG THÀNH PHỐ HÀ NỘI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40 /2019/HNGĐ - ST Ngày: 24/7/2019 V/v Tranh chấp ly hôn |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN HÀ ĐÔNG
- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đình Văn
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Nguyễn Đình Hiền
Bà Đỗ Thị Loan
- Thư ký phiên tòa:
Bà Trần Thị Kim Hoa – Thư ký Tòa án nhân dân quận Hà Đông.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên toà:
Bà Nguyễn Thị Tuyết Mai – Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 7 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Hà Đông, xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 190/2018/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 4 năm 2018 về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 34/2019/QDXXST-HNGĐ ngày 11/6/2019; Quyết định hoãn phiên toà số 21/QĐHPT-HNGĐ-ST ngày 28/6/2019, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Chị Đỗ Thị K, sinh năm 1980; HKTT : số nhà 35, tổ 7 phường Y, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội; chỗ ở: Tổ dân phố 10, phường Y, quận Hà Đông, Thành phố Hà Nội. Có mặt
Bị đơn: Anh Nguyễn Đình Q, sinh năm 1980; HKTT và chỗ ở: số nhà 35 , tổ 7 phường Y, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Vắng mặt
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn xin ly hôn và các lời khai tại Tòa án chị Đỗ Thị K trình bày: Tôi và anh Nguyễn Đình Q kết hôn năm 2004 trên cơ sở tự nguyện có đăng ký kết hôn tại ủy ban nhân dân phường Y, quận Hà Đông, Hà Nội. Sau khi kết hôn hai vợ chồng ở cùng gia đình anh Q tại tổ 7, phường Y, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn do anh Q hay đánh đập chửi bới, lăng mạ và xúc phạm tôi. Có nhiều lần anh Q đánh tôi thâm tím toàn thân và ngay cả khi tôi có bầu. Cả hai bên gia đình và địa E:\TDV\HNGĐ\Đã giải quyết\Kiểm - Quỳnh\Bản án.doc
- 2 -
phương đều biết khuyên giải song không có kết quả. Cho đến năm 2011, tôi và anh Q quyết định ly hôn. Sau môt thời gian ngắn vì thương con do mỗi cháu một nơi nên tôi quyết định quay trở về chung sống với anh Q và chúng tôi đi đăng ký kết hôn lại ngày 03/12/2014 tại Ủy ban nhân dân phường Y cũng vì mong muốn xây dựng gia đình hạnh phúc. Nhưng trong quá trình chung sống anh Q không thay đổi mà vẫn thường xuyên đánh đập, xúc phạm tôi một cách vô cớ, vứt quần áo và đuổi tôi ra khỏi nhà rất nhiều lần. Mâu thuẫn xảy ra liên tục nên tôi đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ ở, hai vợ chồng ly thân từ tháng 6/2016 đến nay. Nay tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt nên tôi đề nghị Tòa án giải quyết cho tôi được ly hôn anh Q.
Về con chung: Vợ chồng tôi và anh Q có 02 con chung là Nguyễn Đình Quang C(nam), sinh ngày 05/11/2006 và Nguyễn Đình Việt A(nam), sinh ngày 03/10/2010. Ly hôn đề nghị Tòa án giải quyết về con chung mỗi người nuôi một con như tại quyết định số 194/2011/QĐST –HNGĐ ngày 31/8/2011 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông: Anh Nguyễn Đình Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Nguyễn Đình Quang C, sinh ngày 05/11/2006. Chị Đỗ Thị K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Nguyễn Đình Việt A, sinh ngày 03/10/2010. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra. Hai bên có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
Về tài sản chung, vay nợ chung: Tôi và anh Q đã tự giải quyết xong, không yêu cầu tòa án xem xét giải quyết.
Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn là anh Nguyễn Đình Q không hợp tác, đến tòa án nhưng không cung cấp lời khai hoặc không ký bản tự khai hoặc tự ý bỏ về không làm việc sau đó không có mặt theo giấy triệu tập, không thực hiện giao nộp tài liệu chứng cứ theo yêu cầu của tòa án, và cũng không thể hiện quan điểm của mình về việc giải quyết vụ án.
Qua xác minh tại địa phương cho thấy: Chị Đỗ Thị K và anh Nguyễn Đình Q có hộ khẩu thường trú và sinh sống tại số nhà 35, tổ dân phố 7, phường Y, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Quá trình chung sống tại địa phương vợ chồng anh chị thường xuyên xẩy ra mâu thuẫn do anh Q hay đánh đập chị K, hội phụ nữ nhiều lần đến can thiệp, hòa giải xong không có kết quả. Chị K, anh Q đã một lần ly hôn, sau đó lại đăng ký kết hôn lại. Tuy nhiên mâu thuẫn của anh chị ngày càng trầm trọng chị K đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị ở tại tổ dân phố 10, phường Y, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội. Nay chị K xin ly hôn anh Q, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật. Chị K và anh Q có 02 con chung. Nếu anh chị ly hôn đề nghị tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa sơ thẩm:
Chị K giữ nguyên yêu cầu xin ly hôn và các lời khai đã trình bày.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Hà Đông tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến:
Về hinh thứ c: Quá trình thụ lý, giải quyết vụ án Thẩm phán thực hiện đầy
̀ đủ các quy định của bộ luật tố tụng dân sự, tuy nhiên thời gian giải quyết vụ án
- 3 -
bị kéo dài. Tại phiên tòa hôm nay, Hội đồng xét xử và nguyên đơn tuân thủ và thực hiện đúng quy định của pháp luật tố tụng dân sự. Bị đơn không chấp hành pháp luật không đến Tòa làm việc cũng không có mặt tại phiên tòa là không tuân thủ pháp luật.
Về nội dung: Cuộc sống hôn nhân của chị K và anh Q xảy ra mâu thuẫn từ lâu, vợ chồng đã ly thân, xét tình trạng hôn nhân đã trầm trọng, không thể hàn gắn nên đề nghị hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của chị K, giải quyết cho chị K được ly hôn anh Q; về con chung: Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Đình Quang C(nam), sinh ngày 05/11/2006 và Nguyễn Đình Việt A(nam), sinh ngày 03/10/2010. Đề nghị Tòa án giải quyết về con chung giao con chung cho anh Q, chị K mỗi người nuôi một con theo nguyện vọng của con chung.
Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị K không đề nghị tòa án giải quyết; anh Q không có lời khai tài liệu về tài sản, vay nợ chung nên dành giải quyết bằng vụ án khác nếu các bên có yêu cầu.
Về án phí: chị K phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
Về thủ tục tố tụng:
Quan hệ pháp luật tranh chấp về Hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Hà Đông theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
Toà án đã thực hiện các thủ tục tống đạt, niêm yết các văn bản tố tụng, triệu tập tham gia phiên toà, quyết định hoãn phiên toà đối với anh Nguyễn Đình Q theo quy định nhưng anh Q vẫn vắng mặt. Việc xét xử vắng mặt anh Q là có căn cứ theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 và khoản 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Chị Đỗ Thị K và anh Nguyễn Đình Q kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân phường Y, quận Hà Đông, thành phố Hà Nội chứng nhận kết hôn lần hai ngày 03/12/ 2014 nên xác định là quan hệ hôn nhân hợp pháp.
Mặc dù đã từng ly hôn sau đó kết hôn lại nhưng quá trình chung sống vợ chồng thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, địa phương đã hòa giải nhiều lần không có kết quả, vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2016, không còn quan tâm đến nhau. Nay chị K xin ly hôn vì không thể hàn gắn hạnh phúc gia đình còn anh Q không thể hiện quan điểm của mình về yêu cầu xin ly hôn của chị K, không
- 4 -
tham gia tố tụng tại các buổi làm việc, các phiên hòa giải cho thấy không có nguyện vọng níu kéo, hàn gắn vợ chồng. Xét tình trạng quan hệ hôn nhân giữa chị Đỗ Thị K và anh Nguyễn Đình Q đã trầm trọng, cuộc sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên có căn cứ chấp nhận cho chị Đỗ Thị K được ly hôn anh Nguyễn Đình Q.
Về con chung: Vợ chồng chị Đỗ Thị K và anh Nguyễn Đình Q có 02 con chung là Nguyễn Đình Quang C(nam), sinh ngày 05/11/2006 và Nguyễn Đình Việt A(nam), sinh ngày 03/10/2010. Hiện hai con chung khi ở với chị K, khi ở với anh Q. Cháu C có nguyện vọng được ở với bố, cháu Việt A có nguyện vọng ở với mẹ. Do đó có căn cứ tiếp tục giao con chung cho chị K, anh Q nuôi dưỡng, chăm sóc theo Quyết định công nhận thuận tình ly hôn số 194/2011/QĐST –HNGĐ ngày 31/8/2011 của Tòa án nhân dân quận Hà Đông đã quyết định về con chung, cụ thể: "Anh Nguyễn Đình Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Nguyễn Đình Quang C, sinh ngày 05/11/2006. Chị Đỗ Thị K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Nguyễn Đình Việt A, sinh ngày 03/10/2010. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra. Hai bên có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản".
Về tài sản chung, vay nợ chung: Chị K trình bày vợ chồng không có tài sản chung, vay nợ chung, đã tự giải quyết xong và không yêu cầu tòa án xem xét giải quyết; Anh Nguyễn Đình Q không có yêu cầu, tài liệu về tài sản chung, vay nợ chung vợ chồng. Do đó, dành giải quyết về tài sản chung, vay nợ chung bằng vụ án khác khi đương sự có đơn khởi kiện và có tài liệu, chứng cứ chứng minh.
Về án phí: Chị K phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm.
Từ nhận định trên;
quyÕt ®Þnh:
- Căn cứ: khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35, điểm a Khoản 1 Điều 39, Khoản 4 Điều 147, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự.
- Áp dụng khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 56; Điều 81, 82, 83 Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014.
- Áp dụng khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Xử:
1.Chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của chị Đỗ Thị K đối với anh Nguyễn Đình Q.
Chị Đỗ Thị K được ly hôn anh Nguyễn Đình Q.
- 5 -
2. Về con chung: Anh Nguyễn Đình Q trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Nguyễn Đình Quang C, sinh ngày 05/11/2006. Chị Đỗ Thị K trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc con chung là Nguyễn Đình Việt A, sinh ngày 03/10/2010. Vấn đề cấp dưỡng nuôi con không đặt ra. Hai bên có quyền thăm nom, chăm sóc con chung không ai được ngăn cản.
3. Về tài sản chung, vay nợ chung: Dành giải quyết bằng vụ án khác khi đương sự có đơn khởi kiện và có tài liệu, chứng cứ chứng minh.
4. Về án phí: Chị K phải chịu 300.000đồng án phí Hôn nhân và gia đình sơ thẩm, được trừ vào 300.000đồng tiền tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai thu số 0001285 ngày 02/4/2018 của Chi cục thi hành án dân sự quận Hà Đông.
Án xử công khai sơ thẩm, có mặt chị K, vắng mặt anh Q. Chị K có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Anh Q có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc bản án được niêm yết.
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nơi nhận: - TAND thành phố Hà Nội; - VKSND quËn Hà Đông; - THA quËn Hà Đông; - UBND phường Yên Nghĩa; - Các đương sự; - Lưu hồ sơ. THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ - 6 - | Trần Đình Văn THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |