- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Chị D khởi kiện yêu cầu ly hôn anh T; yêu cầu giải quyết người trực tiếp nuôi con chung; không yêu cầu giải quyết tài sản chung."
- Tòa quyết gì? Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| TỈNH THÁI BÌNH Bản án số: 40/2019/HNGĐ- ST Ngày 16-08-2019 V/v Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung giữa chị D1 và anh T1. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THÁI THỤY, TỈNH THÁI BÌNH
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán- Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Tòng.
Các Hội thẩm nhân dân:
1.Ông Phan Văn Tiến;
2. Bà Tô Thị Liễu.
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Công Khuông- Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình.
Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hải– Kiểm sát viên.
Trong ngày 16- 08- 2019, tại phòng xét xử Tòa án nhân dân huyện Thái Thụy xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số 114/2019/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 05 năm 2019 về việc Ly hôn, tranh chấp về nuôi con chung theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 36/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 11 tháng 07 năm 2019 giữa các đương sự:
1.Nguyên đơn: Chị Đoàn Thị D1, sinh năm 1985; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn N1, xã T2, huyện T3, tỉnh Thái Bình. Nơi cư trú: Xóm xxx, thôn Q1, xã T2, huyện T3, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt- Có đơn xin xét xử vắng mặt.
2.Bị đơn: Anh Nguyễn Văn T1, sinh ngày 13- 01- 1976; Nơi cư trú: Thôn N1, xã T2, huyện T3, tỉnh Thái Bình. Vắng mặt- lần thứ hai.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Tại đơn khởi kiện ngày 15- 04- 2019 và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn là chị Đoàn Thị D1 trình bày: Chị và anh Nguyễ n Văn T1 cùng ở xã T2; anh chị tự nguyện đăng ký kết hôn; đã được Uỷ ban nhân dân xã T 2 cấp giấy chứng nhận kết hôn số 04 ngày 23- 01- 2006. Sau khi kết hôn, vợ chồng chung sống tại gia đình chồng ở thôn N1, xã T2, huyện T3, tỉnh Thái Bình. Đầu năm 2018, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn ; đến tháng 9-2018, vợ chồng mâu thuẫn trầm trọng, nguyên nhân do tính tình không hợp, do anh T1 ghen vô cớ. Từ tháng 9-2018, chị đã bỏ về nhà bố mẹ đẻ chị ở thôn Q1 cùng xã T2 làm ăn và sinh sống. Từ đó, vợ chồng không sống chung với nhau, không còn thương yêu nhau, không quan tâm chăm sóc nhau nữa. Do vợ chồng đã vi phạm nghiêm trọng quyền nghĩa vụ vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài , mục đích hôn nhân không đạt được nên chị có nguyện vọng ly hôn anh T1. Hiệ n nay, chị không mang thai . Vợ chồng có 02 con chung là Nguyễn Thanh B1, sinh ngà y 16- 02- 2007; Nguyễn Minh T4, sinh ngày 13- 09-2009. Chị có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung; không yêu cầ u anh T1 cấ p dưỡ ng. Vợ chồ ng không có tà i sả n chung, không có nợ chung, không có ai nợ chung vợ chồng nên chị không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã triệu tập anh T1 nhưng anh không đến Tòa án làm việc. Ủy ban nhân dân xã T2 cho biết: Anh T1 và chị D1 tự nguyện kết hôn ngày 23- 01- 2006; sau khi kết hôn vợ chồng chung sống tại xã T2. Vợ chồng anh T1- chị D1 có hai con chung là Nguyễn Thanh B1, sinh ngà y 16- 02-2007; Nguyễn Minh T4, sinh ngày 13- 09- 2009. Địa phương không biết việc anh chị mâu thuẫn như thế nào nhưng chị D1 đã đưa hai con về nhà bố mẹ đẻ chị ở cùng xã sinh sống. Anh T1 vẫn sinh sống tại địa phương nhưng thỉnh thoảng đi làm ăn tự do. Khi Tòa án gửi các văn bản tố tụng, địa phương đã giao cho gia đình; ông T5 là bố đẻ anh T1 đã nhận và cam kết giao lại cho anh nhưng anh không đến Tòa án làm việc. Khi Tòa án về địa phương làm việc, mặc dù anh T1 có mặt tại địa phương, đã được triệu tập hợp lệ nhưng anh T1 không đến làm việc. Khi Tòa án cùng cán bộ địa phương đến nhà thì anh không có nhà, cổng khóa, điện thoại không liên lạc được. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định chung.
Do anh T1 vắng mặt, vụ án không tiến hành hòa giải được, phải đưa ra xét xử.
Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của tố tụng của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Đúng quy định của pháp luật. Ý kiến của Kiểm sát viên về việc giải quyết vụ án: Căn cứ các Điều 51, 56, 88, 81, 82, 83 Luật Hôn nhân gia đình xử cho chị D1 ly hôn anh T1; giao hai con chung cho chị D1 trực tiếp nuôi dưỡng; chị D1 chưa yêu cầu cấp dưỡng nên chưa xem xét giải quyết. Về tài sản chung, nguyên đơn không yêu cầu nên không đặt ra giải quyết. Chị D1 phải nộp án phí ly hôn theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
. Về tố tụng: Bị đơn được triệu tập hợp lệ, đã được giao các văn bản tố tụng nhưng không đến Tòa làm việc, không có văn bản ghi ý kiến gửi về Tòa án, khi Tòa án về địa phương làm việc thì bị đơn cố tình vắng mặt. Do bị đơn vắng mặt, nguyên đơn có đơn đề nghị không tiến hành hòa giải nên vụ án không tiến hành hòa giải theo quy định tại Khoản 1; Khoản 4 Điều 207 Bộ luật Tố tụng dân sự được. Bị đơn đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng vắng mặt tại phiên tòa; nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt; căn cứ quy định tại Khoản 1; Điểm b Khoản 2 Điều 227, Khoản 3 Điều 228; Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.
. Về quan hệ hôn nhân: Việc kết hôn giữa chị D1 và anh T1 là tự nguyện và hợp pháp. Khi phát sinh mâu thuẫn, vợ chồng không có biện pháp hòa giải nên chị D1 đã về nhà bố mẹ đẻ chị ở cùng xã sinh sống. Từ đó, vợ chồng không sống chung với nhau, không còn thương yêu, không quan tâm chăm sóc nhau nữa. Như vậy, có căn cứ xác định vợ chồng chị D1- anh T1 đã vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Vì vậy, cần áp dụng Khoản 1 Điều 51, Khoản 1 Điều 56 Luật Hôn nhân gia đình xử cho chị D1 ly hôn anh T1.
. Về con chung: Chị D1 trình bày: Vợ chồng có hai con chung là Nguyễn Thanh B1, sinh ngà y 16- 02- 2007; Nguyễn Minh T4, sinh ngày 13- 09-2009; hiện hai con đang sống cùng chị D1. Do anh T1 vắng mặt, chị D1 có nguyện vọng trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung, không yêu cầu cấp dưỡng; cả hai con chung đều có nguyện vọng ở với mẹ. Vì vậy, cần áp dụng khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao cho chị D1 trực tiếp nuôi dưỡng cả hai con chung; không đặt ra việc cấp dưỡng nuôi con chung đối với anh T1.
. Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu, không đặt ra giải quyết.
. Về án phí: Nguyên đơn là chị D1 phải chịu 300.000,đồng án phí ly hôn sơ thẩm.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ vào: Khoản 3 Điều 228; Điểm b khoản 2 Điều 227; Khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Khoản 1 Điều 51; Khoản 1 Điều 56; Điều 88, Điều 81, Điều 82; Điều 83 Luật Hôn nhân và gia đình.
Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội.
1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho chị Đoàn Thị D1 ly hôn anh Nguyễ n Văn T1.
2. Về con chung: -Vợ chồng chị D1- anh T1 có hai con chung là Nguyễn Thanh B1, sinh ngà y 16- 02- 2007; Nguyễn Minh T4, sinh ngày 13- 09- 2009.
- Xử giao hai con chung Nguyễn Thanh B1, sinh ngà y 16- 02- 2007; Nguyễn Minh T4, sinh ngày 13- 09- 2009 cho chị D1 trực tiếp nuôi dưỡng. Chị D1 không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con chung.
-Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con mà không ai được cản trở.
3. Về tài sản chung: Nguyên đơn không yêu cầu, không đặt ra giải quyết.
4. Về án phí: Chị D1 phải nộp toàn bộ 300.000,đồng án phí ly hôn; được trừ vào số tiền 300.000,đồng tạm ứng án phí đã nộp tại biên lai số 0001804 ngày 16- 05- 2019 của Chi cục Thi hành án huyện Thái Thụy, tỉnh Thái Bình. Chị D1 đã nộp đủ án phí.
5.Về quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.
| Nơi nhận: - Đương sự; - Uỷ ban nhân dân xã T2; huyện T3, tỉnh Thái Bình; -VKDND huyện Thái Thụy; - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trầ n Văn Tò ng |