- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N và bị đơn anh Huỳnh Công K"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N.
- Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN TỈNH BẠC LIÊU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2019/HNGĐ-ST Ngày 27/8/2019. V/v: Tranh chấp xin ly hôn và nuôi con. |
NHÂN DANH
NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HỒNG DÂN, TỈNH BẠC LIÊU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Bình.
Các Hội thẩm nhân dân: 1/ Ông Danh On;
2/ Bà Nguyễn Thị Hiểu.
- Thư ký phiên tòa: Bà Thái Kim Phƣơng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu tham gia phiên tòa: Ông Dƣơng Minh Kha - Kiểm sát viên.
Trong ngày 27 tháng 8 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Hồng Dân xét xử công khai vụ án thụ lý số: 140/2019/TLST-HNGĐ ngày 30 tháng 5 năm 2019 về việc “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 51/2019/QĐXXST-HNGĐ, ngày 07 tháng 8 năm 2019, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Nguyễn Thị N, sinh năm 1982.
Địa chỉ: ấp T, thị trấn N, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
- Bị đơn: Anh Huỳnh Công K, sinh năm 1972.
Địa chỉ: ấp T, thị trấn N, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu.
(Chị N và anh K vắng mặt nhưng có đơn yêu cầu xin xét xử vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện ngày 29/5/2019, bản tự khai ngày30/5/2019, nguyên đơn chị Nguyễn Thị N trình bày như sau:
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2010, chị N và anh Huỳnh Công K có tổ chức đám cưới trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có tiến hành đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Ngan Dừa, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 02/4/2013. Trong thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cự cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân với nhau từ năm 2015 đến nay. Nay chị nhận thấy tình cảm không còn, mục đích hôn nhân không đạt được chị yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Công K.
Về con chung: Chị N xác định trong thời gian chung sống giữa chị và anh Huỳnh Công K có 01 người con chung là cháu Huỳnh Thụy Trúc Lam, sinh ngày 27/10/2011. Hiện tại cháu Lam đang sống chung với chị N. Chị N yêu cầu được nuôi cháu Huỳnh Thụy Trúc Lam và chị không yêu cầu cấp dưỡng cho cháu Lam.
Về tài sản chung: Chị N xác định giữa chị và anh Huỳnh Công K không có tài sản chung và không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Tại biên bản lấy lời khai của đương sự ngày 20/6/2019, bị đơn anh Huỳnh Công K trình bày như sau: Anh K và chị Nguyễn Thị N tự nguyện tiến tới hôn nhân, có đăng ký kết hôn vào ngày 02/4/2013 tại Ủy ban nhân dân thị trấn Ngan Dừa, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu. Trong thời gian đầu, vợ chồng anh chị chung sống với nhau hạnh phúc, nhưng được một thời gian thì phát sinh mâu thuẩn, vợ chồng thường xuyên cụ cải, bất đồng quan điểm trong cuộc sống và hiện tại hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay. Nay vợ anh là chị Nguyễn Thị N yêu cầu ly hôn với anh thì anh đồng ý.
Về con chung: Anh K xác định giữa anh và chị Nguyễn Thị N có 01 người con chung là cháu Huỳnh Thị Trúc Lam, sinh ngày 27/10/2011. Hiện tại cháu Lam đang sống chung với vợ anh. Nay anh K đồng ý giao cháu Huỳnh Thụy Trúc Lam, sinh ngày 27/10/2011 cho chị N nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục và anh không phải cấp dưỡng cho cháu Lam.
Về tài sản chung: Anh K xác định giữa anh và chị Nguyễn Thị N không có tài sản chung và anh không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến:
- Về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử vụ án, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án là đúng theo quy định pháp luật.
- Việc tuân theo pháp luật tố tụng của người tham gia tố tụng dân sự trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án thì nguyên đơn, bị đơn đã thực hiện đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng của mình.
- Ý kiến về việc giải quyết vụ án: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
1. Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Huỳnh Công K.
2. Về quan hệ con chung: Tiếp tục giao cháu Huỳnh Thụy Trúc Lam, sinh ngày 27/10/2011 cho chị N nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh K không phải cấp dưỡng nuôi con nhưng anh có quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.
3. Về quan hệ tài sản: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
Ngoài ra đương sự còn phải chịu tiền án phí sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết qủa tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
Về tố tụng:
Về quan hệ pháp luật: Chị Nguyễn Thị N khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh Huỳnh Công K và yêu cầu giải quyết về con chung nên căn cứ khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự Tòa án thụ lý giải quyết vụ án về “Tranh chấp ly hôn và nuôi con” là đúng quy định.
Về thẩm quyền giải quyết: Bị đơn anh Huỳnh Công K có nơi đăng ký thường trú tại ấp T, thị trấn N, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự thì Tòa án nhân dân huyện Hồng Dân thụ lý giải quyết vụ án là đúng thẩm quyền.
Nguyên đơn chị Nguyễn Thị N và bị đơn anh Huỳnh Công K tuy rằng vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn yêu cầu được xét xử vắng mặt. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự để xét xử vắng mặt đối với chị N và anh K.
Về nội dung:
Về quan hệ hôn nhân: Vào năm 2010, chị Nguyễn Thị N và anh Huỳnh Công K có tổ chức đám cưới với nhau trên tinh thần tự nguyện, không ai ép buộc và có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân thị trấn Ngan Dừa, huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu vào ngày 02/4/2013 nên quan hệ hôn nhân giữa chị N và anh K là hợp pháp, được pháp luật bảo vệ. Trong quá trình chung sống, chị N và anh K đều xác định có xảy ra nhiều mâu thuẩn, vợ chồng anh chị thường xuyên cự cãi và anh chị đã sống ly thân với nhau từ năm 2015 đến nay nên chị N yêu cầu được ly hôn với anh K. Xét thấy mâu thuẩn giữa chị N và anh K đã trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được do chị N và anh K đã sống ly thân từ năm 2015 đến nay và không liên hệ gì với nhau. Đồng thời tại biên bản lấy lời khai ngày 20/6/2019 của Tòa án với anh K thì anh K đồng ý ly hôn với chị N. Mặc dù anh K đồng ý ly hôn với chị N nhưng khi tiến hành hòa giải để giải quyết vụ án thì anh K vắng mặt nên không thể lập biên bản về việc ghi nhận sự tự nguyện ly hôn và hòa giải thành giữa chị N với anh K để Tòa án ra Quyết định công nhận sự thuận tình ly hôn giữa anh chị được nên Tòa án đã đưa vụ án ra xét xử theo quy định của pháp luật. Vì vậy khi xét xử vụ án, Hội đồng xét xử ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Huỳnh Công K.
Về quan hệ con chung: Quá trình chung sống, chị N và anh K đều xác định giữa anh chị có 01 người con chung là cháu Huỳnh Thụy Trúc Lam, sinh ngày 27/10/2011. Hiện tại cháu Lam đang sống chung với chị N. Chị N yêu cầu được nuôi con và anh K cũng xác định tùy theo nguyện vọng của cháu Lam muốn theo ai thì anh đồng ý giao cho người đó nuôi. Bên cạnh đó, tại bản tự khai ngày 30/5/2019, cháu Lam có nguyện vọng theo sống chung với chị N nên tiếp tục giao cháu Lam cho chị N nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Chị N không yêu cầu cấp dưỡng cho cháu Lam nên không xem xét giải quyết.
Về quan hệ tài sản: Chị N và anh K xác định không có tài sản chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không đặt ra xem xét, giải quyết.
Về án phí: Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Nghị quyết số 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì chị Nguyễn Thị N phải chịu án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm là 300.000 đồng.
Về ý kiến phát biểu việc giải quyết vụ án của Kiểm sát viên: Hội đồng xét xử xét thấy việc đề nghị của Kiểm sát viên là có căn cứ và được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 228, Điều 271, Điều 273 Bộ luật tố tụng dân sự.
Áp dụng các Điều 51, Điều 55, Điều 81, Điều 82 và Điều 83 Luật hôn nhân và gia đình.
Áp dụng Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Tuyên xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Nguyễn Thị N.
1/ Về quan hệ hôn nhân: Ghi nhận sự thuận tình ly hôn giữa chị Nguyễn Thị N và anh Huỳnh Công K.
2/ Về con chung: Tiếp tục giao cháu Huỳnh Thụy Trúc Lam, sinh ngày 27/10/2011 cho chị Nguyễn Thị N nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Anh Huỳnh Công K không phải cấp dưỡng nuôi cháu Lam nhưng anh được quyền tới lui thăm nom, chăm sóc con chung không ai có quyền ngăn cản.
3/ Về tài sản chung: Các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết, nên không đặt ra xem xét giải quyết.
4/ Về án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm: Chị Nguyễn Thị N phải nộp số tiền là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) nhưng chị N đã dự nộp số tiền 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) tạm ứng án phí theo biên lai thu số 0002600 ngày 30/5/2019 tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hồng Dân, tỉnh Bạc Liêu nay chuyển thu toàn bộ số tiền trên thành án phí.
Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 (mười lăm) ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ. Viện Kiểm sát nhân dân cùng cấp và cấp trên được quyền kháng nghị bản án này theo quy định pháp luật./.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Bạc Liêu; - VKSND huyện Hồng Dân; - Chi cục THADS huyện Hồng Dân; - Đương sự. - Lưu hồ sơ. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Trần Văn Bình |