- Tranh chấp gì? Tranh chấp về xác định cha, mẹ cho con hoặc con cho cha mẹ — án hôn nhân và gia đình — "Xác định con cho cha (H1-H2)"
- Tòa quyết gì? Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Dương Quang H1.
- Căn cứ chính? Điều 101 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 102 Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2019/HNGĐ-ST Ngày 10-9-2019 V/v tranh chấp xác định con cho cha |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN QUẬN NGÔ QUYỀN, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Lê Văn Mười
Các Hội thẩm nhân dân:
Bà Hà Thị Mão
Bà Vũ Thị Phương Liên
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Diệu Hương - Thư ký Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thùy Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 9 năm 2019, tại trụ sở Toà án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 237/2019/TLST-HNGĐ ngày 11 tháng 6 năm 2019 về việc tranh chấp xác định con cho cha theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 444/2019/QĐXXST-HNGĐ ngày 02 tháng 8 năm 2019 và Quyết định hoãn phiên tòa số 490/2019/QĐST-HNGĐ ngày 22 tháng 8 năm 2019 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Anh Dương Quang H1; nơi cư trú: Số 80E đường M, phường A, quận L, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Bị đơn: Chị Phạm Thúy H2; nơi cư trú: Số 32/53/36 đường vòng V, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; có mặt.
- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Chí T; nơi cư trú: Số 32/53/36 đường vòng V, phường V, quận N, thành phố Hải Phòng; vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Tại đơn khởi kiện đề ngày 05/6/2019, bản tự khai nguyên đơn anh Dương Quang H1 trình bày:
Chị Phạm Thúy H2 và anh Nguyễn Chí T là vợ chồng. Do mâu thuẫn vợ chồng nên từ năm 2013, anh chị đã sống ly thân, mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Trong thời gian sống ly thân, chị Phạm Thúy H2 đã chung sống với anh Dương Quang H1, đến tháng 9/2016, chị Phạm Thúy H2 đã mang thai con của anh Dương Quang H1. Đầu năm 2017, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền đã giải quyết chị Phạm Thúy H2 và anh Nguyễn Chí T thuận tình ly hôn theo Quyết định số 30/2017/QĐST-HNGĐ ngày 14/02/2017. Ngày 07/7/2017, chị Phạm Thúy H2 đã sinh một cháu gái theo Giấy chứng sinh số 05, quyển số 05 ngày 07/7/2017 của Công ty Cổ phần Bệnh viện P. Ngày 09/5/2019, anh Dương Quang H1 và chị Phạm Thúy H2 đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận L, thành phố Hải Phòng. Ngày 21/5/2019, anh Dương Quang H1 và cháu gái do chị Phạm Thúy H2 sinh ra đã đi giám định ADN. Khi làm thủ tục giám định ADN thì Viện Ứng dụng Khoa học công nghệ DNA yêu cầu anh Dương Quang H1 đặt tên cho cháu. Vì vậy, anh Dương Quang H1 đã đặt tên cho cháu là Dương Như N. Tại Kết quả giải trình tự ADN ngày 21/5/2019 của Viện B kết luận: "Người có mẫu ghi tên Dương Quang H1 có quan hệ huyết thống cha-con với người có mẫu ghi tên Dương Như N, với độ tin cậy 99,9999%". Nay anh Dương Quang H1 đề nghị Tòa án xác định cháu gái do chị Phạm Thúy H2 sinh ra theo Giấy chứng sinh số 05, quyển số 05 ngày 07/7/2017 của Công ty Cổ phần Bệnh viện P là con đẻ của anh Dương Quang H1.
* Tại bản tự khai ngày 20/6/2019, bị đơn chị Phạm Thúy H2 trình bày:
Chị Phạm Thúy H1 và anh Nguyễn Chí T kết hôn trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường M, quận N, thành phố Hải Phòng vào ngày 10/5/2011. Quá trình chung sống vợ chồng hòa thuận đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, Do mâu thuẫn vợ chồng nên từ năm 2013, anh chị đã sống ly thân, mỗi người một nơi, không quan tâm đến nhau. Trong thời gian sống ly thân, chị Phạm Thúy H2 đã chung sống với anh Dương Quang H1, đến tháng 9/2016, chị Phạm Thúy H2 đã mang thai con của anh Dương Quang H1. Đầu năm 2017, Tòa án nhân dân quận N đã giải quyết cho chị Phạm Thúy H1 và anh Nguyễn Chí T thuận tình ly hôn theo Quyết định số 30/2017/QĐST-HNGĐ ngày 14/02/2017. Ngày 07/7/2017, chị Phạm Thúy H1 đã sinh một cháu gái theo Giấy chứng sinh số 05, quyển số 05 ngày 07/7/2017 của Công ty Cổ phần Bệnh viện P. Ngày 09/5/2019, anh Dương Quang H1 và chị Phạm Thúy H2 đã đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân phường A, quận L, thành phố Hải Phòng. Ngày 21/5/2019, anh Dương Quang H1, chị Phạm Thúy H2 và con gái chị đã đi giám định ADN. Do chị Phạm Thúy H2 chưa đăng ký khai sinh cho con nên Viện B yêu cầu anh Dương Quang H1 và chị đặt tên cho con. Vì vậy, anh Dương Quang H1 và chị Phạm Thúy H2 đã đặt tên cho con gái là Dương Như N. Tại Kết quả giải trình tự ADN ngày 21/5/2019 của Viện B kết luận: "Người có mẫu ghi tên Dương Quang H1 có quan hệ huyết thống cha-con với người có mẫu ghi tên Dương Như N, với độ tin cậy 99,9999%". Nay anh Dương Quang H1 đề nghị Tòa án xác nhận con gái do chị Phạm Thúy H2 sinh ra theo Giấy chứng sinh số 05, quyển số 05 ngày 07/7/2017 của Công ty Cổ phần Bệnh viện T là con đẻ của anh Dương Quang H1, chị Phạm Thúy H2 đồng ý.
Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Chí T đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải nhưng anh Nguyễn Chí T đều vắng mặt, không có lý do nên Tòa án không tiến hành hòa giải được và không lấy được lời khai của anh Nguyễn Chí T.
Tại phiên toà, nguyên đơn anh Dương Quang H1 và bị đơn chị Phạm Thúy H2 vẫn giữ nguyên quan điểm và đề nghị Tòa án xác định con gái do chị Phạm Thúy H2 sinh ra theo Giấy chứng sinh số 05, quyển số 05 ngày 07/7/2017 của Công ty Cổ phần Bệnh viện P là con đẻ của anh Dương Quang H1.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Chí T vắng mặt lần thứ hai, không có lý do, mặc dù đã được Tòa án triệu tập hợp lệ.
* Kiểm sát viên phát biểu quan điểm:
- Về việc tuân theo pháp luật tố tụng từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ theo quy định của pháp luật; bị đơn chưa thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ, không tham gia phiên tòa theo quy định của pháp luật.
- Về việc giải quyết vụ án: Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, điểm a khoản 1 Điều 203, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Căn cứ khoản 2 Điều 89, Điều 91, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình; căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, đề nghị Hội đồng xét xử xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn anh Dương Quang H1.
Xác định con gái do chị Phạm Thúy H2 sinh ra (tên tự đặt là Dương Như N) theo Giấy chứng sinh số 05, quyển số 05 ngày 07/7/2017 của Công ty Cổ phần Bệnh viện P là con đẻ của anh Dương Quang H1.
Về án phí: Chị Phạm Thúy H2 phải nộp án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
- Về tố tụng dân sự:
+ Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết:
Đây là vụ án tranh chấp về xác định con cho cha được quy định tại khoản 4 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chị Phạm Thúy H2 có nơi cư trú tại số 32/53/36 đường vòng V, phường Vạn Mỹ, quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng nên theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
+ Về thời hạn giải quyết vụ án:
Ngày 11 tháng 6 năm 2019, Tòa án nhân dân quận Ngô Quyền thụ lý vụ án; đến ngày 02 tháng 8 năm 2019, Tòa án ra quyết định đưa vụ án ra xét xử. Như vậy, Tòa án đã tiến hành giải quyết vụ án theo đúng thời hạn chuẩn bị xét xử quy định tại điểm a khoản 1 Điều 203 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
+ Về sự vắng mặt của đương sự:
Tại phiên tòa, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Chí T vắng mặt lần thứ hai, không có lý do, mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ. Vì vậy, Toà án xét xử vụ án vắng mặt người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Chí T theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nội dung:
Căn cứ vào lời khai của nguyên đơn, bị đơn, lời khai của người làm chứng và biên bản xác minh tại chính quyền địa phương, Hội đồng xét xử nhận thấy: Trong thời kỳ hôn nhân với anh Nguyễn Chí T, do mâu thuẫn vợ chồng nên từ năm 2013 chị Phạm Thúy H2 và anh Nguyễn Chí T đã sống ly thân nhau. Anh Dương Quang H1 và chị Phạm Thúy H2 đều xác nhận: Tháng 9/2016, chị Phạm Thúy H2 đã mang thai con của anh Dương Quang H1. Sau khi ly hôn với anh Nguyễn Chí T theo Quyết định số 30/2017/QĐST-HNGĐ ngày 14/02/2017, chị Phạm Thúy Hà đã sinh một cháu gái theo Giấy chứng sinh số 05, quyển số 05 ngày 07/7/2017 của Công ty Cổ phần Bệnh viện P. Tại Kết quả giải trình tự ADN ngày 21/5/2019 của Viện B kết luận: "Người có mẫu ghi tên Dương Quang H1 có quan hệ huyết thống cha-con với người có mẫu ghi tên Dương Như N, với độ tin cậy 99,9999%". Tại Công văn số 05/CV-DNA ngày 16/7/2019 của Viện B khẳng định: Kết luận tại Kết quả giải trình tự ADN ngày 21/5/2019 là chính xác; tên Dương Như N là tên do anh Dương Quang H1 tự đặt, không có trong Giấy chứng sinh. Như vậy, lời khai của anh Dương Quang H1, chị Phạm Thúy H2 phù hợp với Kết quả giải trình tự ADN ngày 21/5/2019, lời khai của người làm chứng đại diện gia đình anh Nguyễn Chí T và gia đình anh Dương Quang H1, có đủ cơ sở khẳng định: Con gái do chị Phạm Thúy H2 sinh ra (tên tự đặt là Dương Như N) theo Giấy chứng sinh số 05, quyển số 05 ngày 07/7/2017 của Công ty Cổ phần Bệnh viện P là con đẻ của anh Dương Quang H1. Do đó, cần áp dụng khoản 2 Điều 89, Điều 91, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Dương Quang H1.
- Về án phí:
Căn cứ khoản 4 Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, chị Phạm Thúy Hà phải nộp 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo:
Đương sự được quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 4 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ khoản 2 Điều 89, Điều 91, khoản 2 Điều 101, khoản 2 Điều 102 của Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án
Tuyên xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của anh Dương Quang H1.
1. Xác định con cho cha: Xác định con gái do chị Phạm Thúy H2 sinh ra (tên tự đặt là Dương Như N) theo Giấy chứng sinh số 05, quyển số 05 ngày 07/7/2017 của Công ty Cổ phần Bệnh viện P là con đẻ của anh Dương Quang H1.
2. Về án phí: Chị Phạm Thúy H2 phải nộp 300.000 (ba trăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm. Hoàn trả lại anh Dương Quang H1 số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0005852 ngày 11 tháng 6 năm 2019 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Ngô Quyền, thành phố Hải Phòng.
5. Về quyền kháng cáo đối với bản án:
Anh Dương Quang H1 và chị Phạm Thúy H2 được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.
Anh Nguyễn Chí T vắng mặt được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
6. Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận: - VKSND quận N; - Chi cục THADS quận N; - Đương sự; - Lưu: VT, hồ sơ vụ án. | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lê Văn Mười |