- Tranh chấp gì? Tranh chấp hợp đồng tín dụng — án dân sự — "vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng"
- Tòa quyết gì? Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Hồ Quảng C và bà Bùi Anh Th phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam số tiền là 2.
- Căn cứ chính? Điều 101 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 158 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ TỈNH QUẢNG TRỊ | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2019/DS-ST Ngày: 26-11-2019 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ ĐÔNG HÀ, TỈNH QUẢNG TRỊ
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hải Yến.
- Các Hội thẩm nhân dân:
1. Ông Hoàng Ngọc Thoan;
2. Ông Trần Đình Khương;
- Thư ký phiên toà: Ông Trần Việt Tuấn - Thư ký Toà án nhân dân thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Đông Hà tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Diệu Linh - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 11 năm 2019, tại Hội trường xét xử Tòa án nhân dân thành phố Đông Hà xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 165/2019/TLST-DS ngày 30 tháng 9 năm 2019 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2019/QĐXXST-DS ngày 31 tháng 10 năm 2018 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam (BIDV); trụ sở đóng tại: Số 35 Hàng Vôi, quận Hoàn Kiếm, thành phố Hà Nội.
Đại diện theo ủy quyền: Bà Hà Thị Tuyết Nh - Phó phòng quản lý rủi ro Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam chi nhánh Quảng Trị (văn bản ủy quyền ngày 26/11/2019), có mặt.
Bị đơn: Ông Hồ Quảng C, sinh năm 1983 và bà Bùi Anh Th, sinh năm 1987; địa chỉ: Khu phố M, Phường 5, thành phố Đ H, tỉnh Quảng Trị, vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Trong đơn khởi kiện ngày 16/9/2019, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam trình bày:
Ông Hồ Quảng C và bà Bùi Anh Th có quan hệ vay vốn với Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Quảng Trị theo Hợp đồng tín dụng số 01/2018/2486673/HĐTD ngày 12/11/2018, số tiền vay: 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng); Mục đích vay: Xây dựng nhà ở; Thời gian vay: 240 tháng; Lãi suất vay trong hạn: Áp dụng lãi suất ưu đãi cố định trong 24 tháng kể từ ngày rút vốn đầu tiên là 8,8%/năm (từ ngày 12/11/2018 đến ngày 12/11/2020); hết thời hạn ưu đãi thì áp dụng lãi suất cho vay thả nổi điều chỉnh 06 tháng/lần vào ngày 01/6 và 01/12 hàng năm; Riêng kỳ điều chỉnh đầu tiên vào ngày 12/11/2020. Lãi suất điều chỉnh bằng lãi suất cho vay thông thường cùng kỳ hạn do BIDV Quảng Trị thông báo. Lãi suất nợ quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Lịch trả nợ gốc: Bên vay có trách nhiệm thanh toán nợ gốc vào các ngày 15 hàng tháng với số tiền 12.500.000 đồng/kỳ; kỳ trả nợ gốc đầu tiên là 15/12/2018, riêng kỳ cuối cùng trả vào ngày 12/11/2038 với số tiền 2.500.000 đồng. Lịch trả nợ lãi: 01 tháng/lần vào ngày 15 hàng tháng, ngày trả lãi đầu tiên vào 15/12/2018.
Để đảm bảo cho các khoản vay nói trên, các bên đã ký kết Hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/2486673/HĐBĐ ngày 12/11/2018, thế chấp quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 370493 do UBND thành phố Đông Hà cấp ngày 07/11/2014 của ông Hồ Quảng C và bà Bùi Anh Th, để đảm bảo thực hiện toàn bộ nghĩa vụ theo Hợp đồng tín dụng đã được ký kết.
Quá trình thực hiện hợp đồng, những kỳ hạn đầu tiên ông C, bà Th trả nợ đúng hạn theo lịch trả nợ lãi. Tuy nhiên đến ngày 15/7/2019, ông C, bà Th đã vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Chi nhánh Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Quảng Trị đã liên hệ qua điện thoại, thông báo nợ quá hạn bằng văn bản để yêu cầu ông C, bà Th trả nợ quá hạn, nhưng ông C, bà Th vẫn không thực hiện đúng cam kết trả nợ.
Căn cứ vi phạm Hợp đồng, khoản vay theo Hợp đồng tín dụng trên đã phát sinh nợ quá hạn chưa trả, như vậy ông Hồ Quảng C và bà Bùi Anh Th đã vi phạm các điều khoản quy định tại Hợp đồng tín dụng số 01/2018/2486673/HĐTD ngày 12/11/2018 đã ký kết với Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triển Việt Nam - Chi nhánh Quảng Trị.
Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết:
1. Buộc ông Hồ Quảng C và bà Bùi Anh Th có nghĩa vụ thanh toán toàn bộ nợ gốc và nợ lãi cho Ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết, tạm tính đến hết ngày 25/11/2019 là: 2.921.971.148 đồng, trong đó nợ gốc: 2.862.500.000 đồng và nợ lãi: 59.471.148 đồng.
2. Yêu cầu thanh toán lãi vay phát sinh từ ngày 26/11/2019 đến khi ông C, bà Th trả hết nợ gốc và lãi theo Hợp đồng tín dụng số 01/2018/2486673/HĐTD ngày 12/11/2018.
3. Trong trường hợp ông Hồ Quảng C và bà Bùi Anh Th không thực hiện nghĩa vụ trả nợ như trên thì Ngân hàng TMCP Đầu tư và phát triền Việt Nam - Chi nhánh Quảng Trị có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án xử lý các tài sản thế chấp nói trên để thu hồi nợ.
Trong quá trình giải quyết vụ án, bị đơn ông Hồ Quảng C và bà Bùi Anh Th đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Thông báo về việc thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa nhưng không có văn bản trình bày ý kiến và vắng mặt tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do.
Ý kiến của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa:
- Về việc chấp hành pháp luật của những người tiến hành tố tụng và những người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cho đến tại phiên tòa những người tiến hành tố tụng và nguyên đơn tuân thủ đúng quy định của Bộ luật tố tụng dân sự, bị đơn vi phạm Điều 70, 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Về quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử:
Áp dụng Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng; Điều 463, Điều 466 Bộ luật dân sự, xử: Buộc ông Hồ Quang C và bà Bùi Anh T phải trả cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam số tiền là 2.921.971.148 đồng, trong đó nợ gốc là 2.862.500.000 đồng, nợ lãi tính đến hết ngày 25/11/2019 là 59.471.148 đồng. Ông Hồ Quảng C và bà Bùi Anh Th trả khoản lãi vay phát sinh từ ngày 26/11/2019 đến khi bên vay trả hết nợ gốc với mức lãi theo Hợp đồng tín dụng số 01/2018/2486673/HĐTD ngày 12/11/2018 đã ký.
Áp dụng các Điều 299, 323 Bộ luật dân sự năm 2015 chấp nhận yêu cầu kê biên, phát mãi tài sản của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về thủ tục tố tụng: Ông Hồ Quang C và bà Bùi Anh Th đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng tại phiên tòa lần thứ hai không có lý do, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt ông C, bà Th.
Về nội dung: Căn cứ vào hợp đồng tín dụng, Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam đã giải ngân cho ông Hồ Quảng C và bà Bùi Anh Th tổng số tiền là 3.000.000.000 đồng. Trong quá trình thực hiện hợp đồng, bị đơn đã trả được 137.500.000 đồng, còn nợ lại 2.862.500.000 đồng. Theo khoản 4 Điều 8, điểm a khoản 4 Điều 9 của Hợp đồng tín dụng bên cho vay có quyền thu hồi nợ trước hạn nếu bên vay vi phạm bất kỳ một khoản nợ nào đến hạn theo hợp đồng tín dụng đã ký. Căn cứ thỏa thuận trong hợp đồng tín dụng thì ông C, bà Th đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán tiền lãi từ ngày 15/7/2019 và vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc từ ngày 15/7/2019 do đó có cơ sở để chấp nhận yêu cầu nguyên đơn buộc bị đơn phải trả số tiền nợ gốc là 2.862.500.000 đồng.
Về tiền lãi: Mức lãi suất ngân hàng yêu cầu đối với hợp đồng tín dụng: Từ ngày rút vốn đầu tiên đến ngày 14/9/2011 là 8,8%/năm. Lãi suất quá hạn bằng 150% lãi suất trong hạn. Lãi suất như trên phù hợp quy định của pháp luật nên chấp nhận. Theo đó nợ lãi trong hạn và quá hạn tính đến hết ngày 25/11/2019 là 59.471.148 đồng.
Ông Hồ Quảng C và bà Bùi Anh Th trả khoản lãi vay phát sinh từ ngày 26/11/2019 đến khi bên vay trả hết nợ gốc với mức lãi theo Hợp đồng tín dụng số 01/2018/2486673/HĐTD ngày 12/11/2018 đã ký.
Trường hợp bị đơn ông Hồ Quảng C và bà Bùi Anh Th không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nêu trên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà xử lý tài sản thế chấp để thu hồi nợ vay.
Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ: Số tiền chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ là 1.000.000 đồng, nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải chịu và hoàn trả lại cho nguyên đơn. Thấy rằng yêu cầu xử lý tài sản thế chấp của nguyên đơn là có căn cứ nên bị đơn phải có nghĩa vụ chịu chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và phải có nghĩa vụ hoàn trả cho nguyên đơn số tiền 1.000.000 đồng.
Về án phí: Ông Hồ Quảng C và bà Bùi Anh Th phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
1. Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, khoản 1 Điều 147, Điều 101, khoản 1 Điều 158, Điểm b khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; khoản 2 Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng năm 2010; các Điều 299, 317, 319, 320, 323, 463, 466, 468 Bộ luật dân sự năm 2015; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, xử:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc bị đơn ông Hồ Quảng C và bà Bùi Anh Th phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam số tiền là 2.921.971.148 đồng (Hai tỷ chín trăm hai mươi mốt triệu chín trăm bảy mươi mốt ngàn một trăm bốn mươi tám đồng). Trong đó nợ gốc là 2.862.500.000 đồng, nợ lãi tính đến hết ngày 25/11/2019 là 59.471.148 đồng.
Ông Hồ Quảng C và bà Bùi Anh Th phải trả khoản lãi vay phát sinh từ ngày 26/11/2019 cho đến khi bên vay trả hết nợ gốc với mức lãi theo Hợp đồng tín dụng số 01/2018/2486673/HĐTD ngày 12/11/2018 đã ký.
Trường hợp bị đơn ông Hồ Quảng C và bà Bùi Anh Th không thực hiện đầy đủ nghĩa vụ nên trên thì nguyên đơn có quyền yêu cầu Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà phát mãi tài sản đã thế chấp là: Quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BP 370493 mang tên ông Hồ Quảng C và bà Bùi Anh Th do Ủy ban nhân dân thành phố Đông Hà cấp ngày 07/11/2014, vị trí thửa đất tại Khu phố M, Phường 5, thành phố Đ H, tỉnh Quảng trị và tài sản gắn liền với đất theo Hợp đồng thế chấp bất động sản đã ký số 01/2018/HĐ ngày 12/11/2018 để thu hồi nợ vay.
Quyết định này được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại Điều 6, Điều 7 và Điều 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật thi hành án dân sự.
2. Về án phí:
- Ông Hồ Quảng C và bà Bùi Anh T phải chịu 90.439.422 đồng (Chín mươi triệu bốn trăm ba mươi chín ngàn bốn trăm hai mươi hai đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
- Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam được hoàn trả số tiền tạm ứng án phí là 45.765.000 đồng (Bốn mươi lăm triệu bảy trăm sáu mươi lăm ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0000244 ngày 26/9/2019 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Đông Hà, tỉnh Quảng Trị.
3. Về chi phí đo đạc, thẩm định và định giá tài sản: Buộc ông Hồ Quảng C và bà Bùi Anh Th phải chịu và có nghĩa vụ phải hoàn trả cho Ngân hàng TMCP Đầu tư và Phát triển Việt Nam số tiền 1.000.000 đồng.
4. Nguyên đơn, có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị đơn vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án.
| Nơi nhận: - TAND tỉnh Quảng Trị; - VKSND TP. Đông Hà; - CCTHADS TP. Đông Hà; - Đương sự; - Lưu hồ sơ vụ án; | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nguyễn Thị Hải Yến |