vanban.org

Bản án 40/2018/HS-ST — Hình sự

TAND TP. Châu Đốc, tỉnh An Giang Tuyên án 29/06/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

91 Điều 98, Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo: Lê Chí H (K) phạm tội: “Trộm cắp tài sản”; Xử phạt: Bị cáo Lê Chí H: 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Lê Chí Hphạm tội trộm cắp tài sản - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? 91 Điều 98, Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 100 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH AN GIANG
Bản án số: 40/2018/HS-ST
Ngày: 29 - 6 - 2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ CHÂU ĐỐC, TỈNH AN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thanh Ngọc.

Các Hội thẩm nhân dân:

- Ông Nguyễn Thành Nhân ;

- Bà Nguyễn Thị Mỹ Hạnh.

Thư ký phiên toà: Ông Nguyễn Phát Huy – Thư ký Tòa án nhân dân

thành phố Châu Đốc.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang

tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thanh Kiều – Kiểm sát viên.

Trong ngày 29 tháng 6 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố

Châu Đốc xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 28/2018/TLST- HS

ngày 16 tháng 6 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số

40/2018/QĐXXST-HS ngày 15 tháng 6 năm 2018 đối với bị cáo:

Lê Chí H (K), sinh ngày 13/02/2000, nơi sinh: Châu Đốc – An Giang; nơi

cư trú: tổ H, ấp A, xã V, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang; nghề nghiệp: làm

thuê; trình độ văn hóa: 03/12; dân tộc: kinh; giới tính: nam; tôn giáo: Đạo phật;

quốc tịch: Việt Nam; con ông Lê Văn Thanh (chết) và bà Hứa Thị H1; chưa có

vợ, con;

Tiền án, tiền sự: không;

Bị cáo tại ngoại, có mặt tại phiên tòa.

Bị hại: Bà Trần Thanh N (H), sinh năm 1983; nơi cư trú: tổ B, khóm C,

phường K, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang; có mặt.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:

- Trường Mẫu giáo V; địa chỉ: tổ M, ấp A, xã V, thành phố Châu Đốc,

tỉnh An Giang.

Người đại diện hợp pháp của Trường Mẫu giáo V: Bà Huỳnh Thị Ngọc

D, sinh năm 1972; Chức vụ: Hiệu trưởng; có mặt.

- Bà Hứa Thị H1, sinh năm 1968, nơi cư trú: tổ H, ấp A, xã V, thành phố

Châu Đốc, tỉnh An Giang; vắng mặt.

Người làm chứng:

- Ông Nguyễn Văn T1, sinh năm 1970, nơi cư trú: tổ 10, ấp Mỹ Thuận, xã

V, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang; có mặt.

- Bà Hứa Thị N, sinh năm 1970, nơi cư trú: tổ 02, ấp Mỹ An, phường, xã

V, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang; vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung

vụ án được tóm tắt như sau:

Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên khoảng 01 giờ ngày 18/12/2017, Lê Chí

H (K) chuẩn bị 01 cây kiềm, đi bộ đến trường Mẫu giáo V thuộc khu vực tổ M, ấp A, xã V, thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang để tìm tài sản lấy trộm. Khi đến nơi, H trèo qua hàng rào B40 bị đổ sập đột nhập vào bên trong, d ng kiềm b khóa cửa phòng học do cô Trần Thanh N (giáo viên) quản lý. H d ng kiềm tháo 01 tivi hiệu LG 42 inch, có gắn 01 USB treo trên tường rồi mang tivi về nhà tại tổ H, ấp A, xã V, thành phố Châu Đốc để trên giường thì bị mẹ ruột là bà Hứa Thị H1 phát hiện hỏi và biết được tivi do H trộm mà có thì bà H1 khuyên H đem trả lại nhưng H không đồng ý, H dự định đến sáng hôm sau sẽ mang bán để lấy tiền tiêu xài và bỏ đi ngủ. Đến 6 giờ 50 phút c ng ngày, chị N đến phòng học phát hiện mất tivi nên báo cho cô Huỳnh Thị Ngọc D là Hiệu trưởng của trường và anh Nguyễn Văn T1 là bảo vệ biết sự việc và trình báo Công an.

Vật chứng thu giữ: 01 (một) tivi màu, nhãn hiệu LG, màn hình phẳng,

màu đen 42 in; 01 (một) usb màu xanh trắng dung lượng 02GB; 01 cây kiềm bằng kim loại, chiều dài 20cm, ốp tay cầm được bao phủ bằng lớp nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng;

Căn cứ Bản kết luận định giá tài sản trong tố tụng hình sự số 40 ngày

26/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Châu Đốc kết luận: 01 (một) tivi màu, màn hình phẳng, nhãn hiệu LG, mã số 42LK450, 42 inch, màu đen, đã qua sử dụng, tỷ lệ sử dụng còn lại: 50%; giá trị còn lại: 3.000.000 đồng; 01 (một) usb, màu xanh trắng, dung lượng 2Gb, đã qua sử dụng, tỷ lệ sử dụng còn lại: 50%; giá trị còn lại: 10.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 3.010.000 đồng.

Ngày 06/3/2018, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Châu Đốc

ra Quyết định khởi tố vụ án khởi tố bị can và Quyết định truy nã đối với Lê Chí H về hành vi “Trộm cắp tài sản”. Ngày 10/4/2018, H đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Châu Đốc đầu thú. Cùng ngày Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Châu Đốc ra Quyết định Đình nã và Lệnh cắm đi khỏi nơi cư trú đối với H.

Ngày 08/3/2018, Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc ra Quyết

định phê chuẩn Quyết định khởi tố bị can đối với Lê Chí H.

Tại bản Cáo trạng số 40/CT-VKS-CĐ ngày 18 tháng 5 năm 2018, Viện

kiểm sát nhân dân thành phố Châu Đốc, tỉnh An Giang đã truy tố bị cáo Lê Chí

H về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự

năm 2015, đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

- Bị cáo Lê Chí H (K) đã khai nhận toàn bộ hành vi như Cáo trạng truy tố.

Bị cáo không có ý kiến tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên và xin Hội

đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

- Kiểm sát viên trình bày lời luận tội: Lời nhận tội của bị cáo tại phiên tòa

ph hợp với lời khai của bị cáo trong giai đoạn điều tra, truy tố và ph hợp với

lời khai của người bị hại, người làm chứng và người có quyền lợi nghĩa vụ liên

quan nên có cơ sở xác định bị cáo Lê Chí H có hành vi thực hiện trộm cắp 01

tivi màn hình phẳng 42 inch có gắn sẵn 01 USB, trị giá 3.010.000 đồng của chị

N như Cáo trạng Viện kiểm sát đã truy tố. Vì vậy, Viện kiểm sát nhân dân thành

phố Châu Đốc đã truy tố bị cáo Lê Chí H về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1

Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 là có căn cứ,

đúng người, đúng tội và đúng pháp luật nên vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố.

Bị cáo có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, thực hiện tội phạm với

lỗi cố ý. Bị cáo ở độ tuổi lao động, biết trộm cắp tài sản của người khác là vi

phạm pháp luật, nhưng vì muốn có tiền tiêu xài cá nhân mà không d ng sức lao

động bị cáo đã sử dụng kiềm cắt ổ khóa phòng học do cô N quản lý và lén lút

trộm cắp 01 tivi có gắn 01 USB. Hành vi phạm tội của bị cáo gây tâm lý bất an

lo sợ mất trộm tài sản của công dân.

Về nhân thân và lý lịch của bị cáo Lê Chí H xác định: khi thực hiện hành

vi phạm tội bị cáo H đã đủ tuội chịu trách nhiệm hình sự, dưới 18 tuổi (ngày

18/12/2017 khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo H được 17 năm 10 tháng 05

ngày tuổi); không có tiền án, tiền sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo

đã thành khẩn khai báo hành vi phạm tội; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp

ít nghiêm trọng; thuộc thành phần lao động nghèo; chỉ học đến lớp 3 nên nhận

thức pháp luật còn hạn chế; sau khi bị khởi tố truy nã bị cáo ra đầu thú; bị hại

chị Trần Thanh N và người có quyền lợi liên quan chị Huỳnh Thị Ngọc D xin

giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Bị cáo có đủ điều kiện được hưởng tình tiết giảm

nhẹ trách nhiệm hình sự theo quy định tại điểm s, điểm i khoản 1 và khoản 2

Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Vì vậy, về hình phạt đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173;

các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 91; Điều 98; Điều 100 Bộ luật

Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo từ 09 tháng

đến 01 năm cải tạo không giam giữ về tội “trộm cắp tài sản”.

Về hình phạt bổ sung: Khi thực hiện hành vị phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi

nên đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.

Đối với bà Hứa Thị H1, sau khi biết tài sản do Hậu trộm cắp mà có không

trình báo, nhưng không thuộc trường hợp phạm tội không tố giác tội phạm theo quy định Điều 19, Điều 390 Bộ luật hình sự.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, Điều 106

Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, đề nghị tịch thu tiêu hủy đối với 01 cây kiềm loại bằng kim loại, chiều dài 20cm, ốp tay cầm được bao phủ lớp nhựa màu đỏ sử dụng cho việc phạm tội. Đối với 01 tivi và 01 USB đã trả lại cho bị hại N nên không đề nghị.

Về trách nhiệm dân sự: không có yêu cầu nên không đề nghị.

- Người bị hại chị Trần Thanh N cho biết: Khoảng 06 giờ ngày 18/12/2017

bà đến Trường mẫu giáo V tại khu vực tổ M, ấp A, xã V, thành phố Châu Đốc để dạy học. Khi đến trường từ bên ngoài cổng nhìn vào thấy cửa chính vẫn còn khóa nhưng cửa phòng học trong trường bị mở ra chị vào trong lớp học kiểm tra thì phát hiện mất 01 tivi hiệu (LG) màu đen, màn hình 42 inch nên điện thoại báo cho chị Huỳnh Thị Ngọc D, là Hiệu trưởng của trường biết. Ti vi mất trộm là tài sản của Trường mẫu giáo V giao cho chị quản lý sử dụng làm phương tiện dạy học từ ngày 01/9/2017. Hiện nay, tài sản bị mất trộm đã được nhận lại nên không yêu cầu bị cáo bồi thường; xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo vì bị cáo còn nhỏ, học thức thấp nên hiểu biết pháp luật còn hạn chế.

- Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án chị Huỳnh Thị

Ngọc D cho biết: Chị D là Hiệu trưởng Trường mẫu giáo V, khoảng 06 giờ 50 phút ngày 18/12/2017 chị nhận được cuộc điện thoại của cô N là giáo viên trong trường, nói là trường bị mất trộm nên chị có nói với anh T1 là nhân viên bảo vệ của trường qua trình báo Công an xã V. Sau đó, chị đến trường xem có thiệt hại gì không thì phát hiện mất trộm 01 tivi (LG) màu đen, màn hình 42 inch tại lớp học của cô N. Ti vi mất trộm là tài sản của Trường mẫu giáo V giao cho cô Trần Thanh N quản lý sử dụng làm phương tiện dạy học từ ngày 01/9/2017. Đối với tài sản bị mất trộm đã được thu hồi nên không có yêu cầu gì, xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để tạo điều kiện cho bị cáo hoàn lương.

- Người làm chứng anh Nguyễn Văn T1 cho biết: Khoảng 06 giờ 55 phút

ngày 18/12/2017, anh đang dọn dẹp trong trường thì có cuộc gọi của cô Hiệu trưởng trường gọi cho anh nói là Trường mẫu giáo V điểm 2 bị mất 01 tivi cùng với 01 USB. Sau đó anh đến Công an xã V trình báo sự việc.

Căn cứ các tài liệu đã được thẩm tra tại phiên toà; căn cứ vào kết quả tranh

luận tại phiên toà trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, bị cáo và người tham gia tố tụng khác;

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được

tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

- Về tố tụng:

Thẩm quyền giải quyết vụ án: Bị cáo Lê Chí H (K) bị Cơ quan Cảnh

sát điều tra – Công an nhân dân thành phố Châu Đốc khởi tố về hành vi “Trộm

cắp tài sản” của chị Trần Thanh N tại Trường Mẫu giáo V thuộc xã V, thành

phố Châu Đốc, tỉnh An Giang nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân

dân thành phố Châu Đốc.

Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an

nhân dân thành phố Châu Đốc; Điều tra viên; Viện kiểm sát nhân dân thành phố

Châu Đốc; Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm

quyền, trình tự thủ tục quy định của pháp luật tố tụng hình sự.

Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa bị cáo, người bị hại và người

làm chứng không có ý kiến khiếu nại nên về hành vi, quyết định của Cơ quan

tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện.

Sự vắng mặt của người tham gia tố tụng: Người có quyền lợi, nghĩa

vụ liên quan Hứa Thị H1; người làm chứng bà Hứa Thị N đã được Tòa án triệu

tập tham gia phiên tòa hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt.Xét, bà H1 và bà N đã có lời

khai trong quá trình điều tra nên việc vắng mặt của bà H1, bà N không gây trở

ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt theo

quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015

- Về nội dung:

Hành vi phạm tội:

Bị cáo Lê Chí H khai nhận: Khoảng 23 giờ 30 phút ngày 17/12/2017, bị

cáo chuẩn bị sẵn một cây kiềm mang theo bên người và đi đến khu vực cầu

Kênh Đào để nH c ng các bạn. Đến khoảng 01 giờ ngày 18/12/2017, bị cáo nghỉ

nH và đi bộ một mình đến Trường mẫu giáo V thuộc xã V, thành phố Châu Đốc,

tại đây không thấy ai trực trông coi tại trường và cổng trường đã khóa nên bị cáo

trèo qua hàng rào B40 bị đổ sập leo vào bên trong đến lớp Lá 3 dùng kiềm đã

chuẩn bị sẵn b khoen cửa lớp mở cửa vào bên trong, trên tường có tủ để tivi, bị

cáo mở tủ tivi ra khiêng chiếc tivi ra bên ngoài bằng lối đi vào rồi một mình

khiêng tắt đường đồng đem về nhà đợi đến sáng đi tiêu thụ. Khi bị cáo mang tivi

về nhà thì mẹ bị cáo có hỏi, tivi của ai bị cáo trả lời của người ta bà không biết

đâu rồi bị cáo đi ngủ đến 08 giờ c ng ngày thì lực lượng Công an xã V đến mời

bị cáo về làm việc và bị cáo đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan đến vụ án bà Hứa Thị H1 cho

biết: Bà là mẹ ruột của Lê Chí H, khoảng 03 giờ ngày 18/12/2017 bà đang nằm

ngủ ở nhà thì H đi cửa sau về và ra cửa trước mở khóa khiêng vật gì vào, H

khiêng để lên giường 01 cái tivi màu đen chiều dài khoảng 110cm, chiều rộng

khoảng 60cm, không rõ của ai nên bà hỏi H “mày lấy của ai vậy đem trả người ta d m tao, đừng liên lụy đến tao”, H nói “của người ta lạ lắm bà có biết đâu mà hỏi”, thấy vậy bà không nói nữa và cũng biết đây là tài sản do H trộm cắp mà có nhưng do bệnh nên chưa đến Công an trình báo. Đến sáng Công an xã V mời H làm việc và bà đã giao nộp ti vi nói trên.

Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa ph hợp với lời khai của bị cáo ở

giai đoạn điều tra, truy tố và ph hợp với lời khai của bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan và người làm chứng. Ngoài ra, còn ph hợp với vật chứng vụ án đã thu giữ và giao trả lại cho người bị hại và ph hợp với các tài liệu, chứng cứ khác gồm: biên bản khám nghiệm hiện trường, bản ảnh, sơ đồ hiện trường ngày 18/12/2017 do cơ quan có thẩm quyền lập. Từ đó, có căn cứ xác định bị cáo đã lợi dụng lúc sơ hở trong quản lý tài sản của bị hại, lén lút chiếm đoạt 01 (một) tivi màu, màn hình phẳng, nhãn hiệu LG, mã số 42LK450, 42 inch, màu đen, đã qua sử dụng, tỷ lệ sử dụng còn lại: 50%; giá trị còn lại: 3.000.000 đồng; 01 (một) USB màu xanh trắng, dung lượng 2Gb, đã qua sử dụng, tỷ lệ sử dụng còn lại: 50%; giá trị còn lại: 10.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 3.010.000 đồng theo Kết luận định giá tài sản số 40 ngày 26/12/2017 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thành phố Châu Đốc.

Bị cáo là người có năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành

vi chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện với mục đích đem bán lấy tiền tiêu xài. Vì vậy, hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017 như nội dung cáo trạng truy tố.

Quyền sở hữu của công dân được pháp luật bảo vệ, những ai xâm phạm

đến quyền sở hữu của người khác một cách trái pháp luật sẽ bị pháp luật chế tài bằng hình phạt.

Bị cáo đang ở tuổi lao động, đáng lẽ phải cố gắng lao động để tạo thu

nhập chính đáng nuôi sống bản thân, gia đình nhưng bị cáo lại không lao động, thích sống hưởng thụ, lợi dụng sự sơ hở của người khác để chiếm đoạt tài sản một cách trái pháp luật.

Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xét phải có mức hình phạt

tương xứng để giáo dục bị cáo trở thành người tốt.

Xem xét tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo không có tình tiết tăng nặng.

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo; tỏ thái độ

ăn năn; phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; thuộc thành phần lao động nghèo; không có tiền án, tiền sự; nhận thức pháp luật còn hạn chế; khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo dưới 18 tuổi; người bị hại chị Trần Thanh N và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan chị Huỳnh Thị Ngọc D xin xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo. Xét, đây là các tình tiết giảm nhẹ được quy định

tại điểm s, i khoản 1; khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự 2015 được sửa đổi, bổ

sung năm 2017 nên có xem xét áp dụng, giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo trong khi

lượng hình như quan điểm đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát.

Xét thấy, không cần cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội mà áp dụng hình

phạt Cải tạo không giam giữ với thời hạn nhất định cũng đảm bảo mục đích răn

đe, giáo dục và phòng ngừa chung.

Về hình phạt: Không cần cách ly bị cáo với bên ngoài xã hội, hình

phạt cải tạo không giam giữ có thể để bị cáo lao động cải tạo dưới sự giám sát

của Ủy ban nhân dân xã V, thành phố Châu Đốc cũng đủ tác dụng giáo dục. Gia

đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V, thành phố Châu

Đốc trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Về hình phạt bổ sung, tại thời điểm phạm tội bị cáo chưa đủ 18 tuổi nên

không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 6 Điều 91 Bộ luật

hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Về xử lý vật chứng và biện pháp tư pháp:

- 01 (một) tivi màu, nhãn hiệu LG, màng hình phẳng, màu đen 42 in; 01

(một) usb màu xanh trắng dung lượng 02GB, đã qua sử dụng được giao trả cho

bị hại nên không đề cập giải quyết.

- Đối với 01 cây kiềm bằng kim loại, chiều dài 20cm, ốp tay cầm được

bao phủ bằng lớp nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng. Đây là công cụ để bị cáo thực

hiện hành vi phạm tội. Xét, tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 46, Điều 47

Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố

tụng Hình sự năm 2015.

Về trách nhiệm dân sự:

Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bị cáo bồi thường cũng như

không có yêu cầu nào khác nên không đề cập giải quyết.

Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan chị Huỳnh Thị Ngọc Dễm

không có yêu cầu bồi thường và không có ý kiến khác nên không đề cập

giải quyết.

Vấn đề khác:

Đối với bà Hứa Thị H1, sau khi biết tài sản do Hậu trộm cắp mà có không

trình báo nhưng không thuộc trường hợp phạm tội không tố giác tội phạm theo

quy định Điều 19, Điều 390 Bộ luật hình sự nên Cơ quan điều tra không xem xét

xử lý đối với hành vi của bà H1 là có căn cứ.

Về án phí: Bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo

luật định.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 173; các điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều

91 Điều 98, Điều 100 Bộ luật Hình sự năm 2015 được sửa đổi, bổ sung năm 2017;

Tuyên bố bị cáo: Lê Chí H (K) phạm tội: “Trộm cắp tài sản”;

Xử phạt: Bị cáo Lê Chí H: 09 (chín) tháng Cải tạo không giam giữ.

Thời hạn chấp hành hình phạt Cải tạo không giảm giữ của bị cáo Lê Chí

H được tính kể từ ngày Ủy ban nhân dân xã V, thành phố Châu Đốc được giao giám sát, giáo dục và bị cáo nhận được Quyết định thi hành án và bản sao bản án.

Giao bị cáo Lê Chí H cho Ủy ban nhân dân xã V, thành phố Châu Đốc

giám sát, giáo dục trong thời gian Cải tạo không giam giữ.

Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với Ủy ban nhân dân xã V, thành

phố Châu Đốc trong việc giám sát giáo dục bị cáo.

Căn cứ Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm

2017, Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015.

Tịch thu tiêu hủy 01 cây kiềm bằng kim loại, chiều dài 20cm, ốp tay cầm

được bao phủ bằng lớp nhựa màu đỏ, đã qua sử dụng.

(Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 27 tháng 4 năm 2018 giữa Cơ

quan Cảnh sát điều tra - Công an thành phố Châu Đốc với Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Châu Đốc).

Căn cứ Điều 135, 136, 333 và Điều 337 Bộ luật Tố tụng hình sự năm

2015 và Nghị quyết số 326/2016/ UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;

Buộc bị cáo Lê Chí H phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí

hình sự sơ thẩm.

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo, người bị hại, người có

quyền lợi nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh An Giang xét xử phúc thẩm. Riêng thời hạn kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa là 15 ngày kể từ ngày nhận tống đạt bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2

Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,

7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy

định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Cỡ chữ