vanban.org

Bản án 40/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Vĩnh Bảo, TP. Hải Phòng Tuyên án 19/10/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Đặng Văn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn K 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, trừ cho K 04 (Bốn) ngày bị tạm giữ từ ngày 10-02-2018 đến ngày 14-02-2018. Về vật chứng: Xử tịch thu tiêu hủy 01 mũi giáo nhọn, 01 chiếc xẻng, 07 nửa viên gạch, 02 chiếc kiếm (Vật chứng có đặc điểm như bi… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Vụ án hình sự đối với bị cáo Đặng Văn K bị xét xử về tội Cố ý gây thương tích theo khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015 - phạm tội cố ý gây thương…"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Đặng Văn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
  • Căn cứ chính? Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 134 Bộ luật Hình sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN VĨNH BẢO
THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2018/HS-ST
Ngày 19-10-2018

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN VĨNH BẢO, THÀNH PHỐ HẢI PHÒNG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thương Huyền.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Văn Quyết

Ông Đoàn Quốc Việt

- Thư ký phiên toà: Ông Vũ Viết Hoàn - Thư ký Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Vĩnh Bảo tham gia phiên toà: Bà Phạm Thị Nghĩa - Kiểm sát viên.

Ngày 19 tháng10 năm 2018, tại trụ sở Toà án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 34/2018/TLST-HS ngày 04 tháng 9 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 44/2018/QĐXXST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2018 đối với bị cáo:

Đặng Văn K, sinh ngày 19 tháng 02 năm 1989 tại Hải Phòng. Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn 1, xã VT, huyện VB, thành phố Hải Phòng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 09/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Đặng Văn S và bà Nguyễn Thị P; có vợ và 01 con. Tiền án, tiền sự: Không. Nhân thân: Có 01 tiền án đã được xóa án tích. Tại Bản án số 34/2010/HSST ngày 21-9-2010 Tòa án nhân dân huyện VB, thành phố Hải Phòng đã tuyên phạt 24 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản theo quy định tại Điều 135 Bộ luật Hình sự năm 1999. Bị tạm giữ từ ngày 10-02-2018 đến ngày 14-02-2018 được thay thế biện pháp pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú; có mặt.

Bị hại:

1. Nguyễn Văn T; nơi cư trú: Thôn 1, xã VT, huyện VB , thành phố Hải Phòng; vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Nguyễn Văn M; nơi cư trú: Thôn 1, xã VT, huyện VB , thành phố Hải Phòng; vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người có quyền lợi nghĩa vụ L quan:

1. Ông Nguyễn Văn M1; nơi cư trú: Thôn 1, xã VT, huyện VB , thành phố Hải Phòng; vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

2. Anh Nguyễn Văn S; nơi cư trú: Thôn 1, xã VT, huyện VB , thành phố Hải Phòng; vắng mặt (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

Người làm chứng:

- Người làm chứng: Hoàng Thị N; Hoàng Trọng V; Đinh Thị Đ; Đặng Văn K1; Nguyễn Thị L; Trần Minh P; Lâm Văn P; Phạm Văn C; đều vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 12 giờ 00 phút ngày 19 tháng 01 năm 2018, anh Nguyễn Văn M, sinh năm 1980 ở thôn 2, xã VT, huyện VB , thành phố Hải Phòng gọi điện thoại cho Đặng Văn K xin khất nợ nhưng K không đồng ý nên xảy ra to tiếng. Thấy vậy, anh Nguyễn Văn T, sinh năm 1986 ở thôn 1, xã VT là em họ của M đang ngồi cạnh đã lấy điện thoại của anh M rồi nói chuyện tiếp với K để xin khất nợ hộ anh M nhưng K không đồng ý và to tiếng với nhau. Do đó, K cầm theo 01 chiếc giáo bằng tuýp sắt dài khoảng 02 m, đầu có gắn 01 dao nhọn dài 18 cm, bản rộng nhất của lưỡi là 05 cm đi sang nhà anh M . Thấy vậy, Đinh Thị Đ, sinh năm 1989 là vợ của K ; Đặng Văn K1 , sinh năm 1993 là em trai K ; Nguyễn Thị L , sinh năm 1994 ở thôn TH, xã TL, huyện VB và một số người bạn của K (hiện chưa xác định được tên tuổi địa chỉ cụ thể) đuổi theo và can ngăn. Khi đến nhà anh M , K cầm giáo đi vào sân và nói: “Thằng nào vừa thách thức tao thì ra đây”. Lúc này anh M , anh T , anh Nguyễn Văn S , sinh năm 1983 là em trai M và Hoàng Trọng V , sinh năm 1991 ở DĐ, xã MT, huyện SD, tỉnh Tuyên Quang (là thợ xây cùng làm với anh S ) đang ngồi uống nước ở sân, ông Nguyễn Văn M1 , sinh năm 1954 (là bố anh M ) đang bế cháu đứng ở hiên nhà, còn bà Hoàng Thị N , sinh năm 1957 (là mẹ anh M ) đang ở trong nhà. Thấy vậy, anh T đứng lên thì bị K tiến đến cầm giáo bằng tay phải đâm một nhát vào lưng làm anh T gục xuống sân. Sau đó, K tiếp tục cầm giáo chém nhiều nhát vào tay trái, tay phải của anh M gây thương tích. Vì vậy, anh M đã lấy 01 chiếc xẻng dài 1.1m, có cán bằng gỗ dài 80 cm vụt lại K để tự vệ làm K lùi ra cổng. Lúc này, ông M1 đi ra đóng cổng lại thì bị K đứng ở ngoài cầm giáo trọc qua khe cổng trúng vào chân ông M1 gây thương tích nhẹ, đầu mũi giáo bị dắt vào cánh cổng rơi ra. Sau đó anh T , anh M , ông M1 được đưa đi cấp cứu.

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 43/2018/TgT ngày 22-01-2018 của Trung tâm pháp y Hải Phòng kết luận về thương tích của anh Nguyễn Văn T như sau: “…nạn nhân bị vết thương phần mềm lớn vùng thắt lưng phải đã được điều trị, dần ổn định. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do vết thương vùng thắt lưng phải gây nên là 08%. Nạn nhân còn đau đầu nhưng chụp CT.Scanner sọ não không có tổn thương nên không có căn cứ đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể, cần theo dõi thêm. Thương tích trên có đặc điểm do vật sắc hoặc sắc nhọn tác động trực tiếp gây nên”

Tại bản kết luận giám định pháp y về thương tích số 44/2018/TgT ngày 22-01-2018 của Trung tâm pháp y Hải Phòng, kết luận về thương tích của anh Nguyễn Văn M như sau: “… nạn nhân bị một số vết thương rách xước da hai tay, chấn thương bàn tay trái có vỡ xương đầu gần đốt 1 ngón 3 bàn tay trái đã được điều trị ổn định. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do vết thương rách da lớn vùng cẳng tay trái gây nên là 08%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do hai vết thương rách da vùng bàn tay phải gây nên là 02%. Tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể do tổn thương vỡ xương đầu gần đốt 1 ngón 3 bàn tay trái gây nên là 02%. Tổng tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của nạn nhân do các thương tích trên gây nên theo phương pháp cộng lùi và làm tròn số là 12%. Các vết xây xước da cánh tay phải, ngón 1,2,5 bàn tay phải, gối trái không đủ lớn để đánh giá tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể. Các vết thương rách, xước da có đặc điểm do vật sắc tác động trực tiếp gây nên. Sưng nề, bầm tím bàn tay trái, xây xước da, bầm tím gối trái có đặc điểm do vật tày tác động trực tiếp gây nên”

Ngày 23-7-2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện VB có Công văn số 30/CV yêu cầu Trung tâm pháp y Hải Phòng xác định đầu mũi giáo thu tại hiện trường có khả năng gây thương tích cho anh M , anh T được không. Tại Công văn trả lời số 81/CV/2018 ngày 27-7-2018 của Trung tâm pháp y Hải Phòng thể hiện: “Đầu mũi giáo thu tại hiện trường có thể gây được các thương tích cho anh Nguyễn Văn T và vết thương rách da của anh Nguyễn Văn M ”.

Do Đặng Văn K trốn khỏi địa phương nên ngày 08-02-2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện VB đã ra quyết định truy nã đối với K . Đến ngày 10-02-2018 K đến Công an huyện Vĩnh Bảo đầu thú khai nhận hành vi phạm tội của mình.

Với các tài liệu, chứng cứ thu thập được, ngày 26-02-2018 Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện VB đã ra Quyết định khởi tố vụ án, Quyết định khởi tố bị can đối với Đặng Văn K về tội Cố ý gây thương tích theo khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015.

Bản Cáo trạng số 39/CT-VKS ngày 04 tháng 9 năm 2018, Viện Kiểm sát nhân dân huyện VB đã truy tố Đặng Văn K về tội Cố ý gây thương tích theo điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015.

Tại cơ quan điều tra, K khai nhận: Sau khi dùng giáo đâm anh T vào lưng thì anh M , anh S mỗi người cầm 01 chiếc kiếm đánh lại K , K cầm giáo đánh trúng tay anh M làm chiếc kiếm bị rơi xuống đất, sau đó anh S cầm kiếm phi về phía K nhưng không trúng. Thấy vậy, K nhặt 02 chiếc kiếm mang về cất giấu ở vườn chuối nhà mình sau đó bảo Đinh Thị Đ cầm đến giao nộp cho cơ quan Công an. K khẳng định các thương tích của anh T , anh M , ông M1 là do một mình K cầm giáo gây lên. Đặng Văn K1, Đinh Thị Đ , Nguyễn Thị L và những người đi theo không tham gia gì.

Anh Nguyễn Văn T , anh Nguyễn Văn S , anh Nguyễn Văn M , ông Nguyễn Văn M1 , bà Hoàng Thị N và anh Hoàng Trọng V khai báo: Ngoài việc K dùng giáo gây thương tích cho anh T , anh M , ông M1 còn có sự tham gia của Đặng Văn K1 và khoảng hơn 10 thanh niên đi cùng. Trong đó K1 mang theo 01 chiếc giáo cùng với 03 thanh niên lạ mặt mỗi người cầm 01 tuýp sắt dài khoảng 01m vụt, đánh nhóm anh M . Do sự việc hỗn loạn nên những người này không rõ K1 và 03 thanh niên lạ mặt có gây thương tích cho ai hay không. Ngoài ra còn có một số thanh niên còn lại đứng ở ngoài đường cầm gạch ném vào trong nhà anh M nhưng không gây thương tích cho ai và không gây thiệt hại gì. Riêng anh M , anh S khai báo anh M bị 01 người phụ nữ ném gạch trúng vào tay trái và anh S bị một người nào đó vụt vào vai nhưng chỉ bị bầm tím. Trong quá trình xảy ra sự việc, chỉ có anh M cầm 01 chiếc xẻng để chống lại nhóm của K còn phía người nhà anh M không có ai tham gia. Anh M , anh T xin giảm nhẹ hình phạt cho Đặng Văn K . Đối với thương tích của ông Nguyễn Văn M1 , anh Nguyễn Văn S , Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyên VB đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích, tuy nhiên ông M1 , anh S đều từ chối giám định thương tích. Về trách nhiệm dân sự anh T , anh M , ông M1 đã nhận bồi thường và không yêu cầu bồi thường gì thêm, anh S không yêu cầu bồi thường thiệt hại.

Đặng Văn K1 khai báo: Khi đến nơi thấy anh S , anh M mỗi người cầm 01 chiếc kiếm đang đánh nhau với K nên anh K1 vào kéo K lùi ra. Tuy nhiên do anh S xông vào định đánh tiếp nên K1 đã lấy 01 chiếc gậy tre ở gần cổng vụt vào người anh S một cái để ngăn cản rồi cùng K đi về. Ngoài ra không ai mang theo công cụ và tham gia đánh nhóm anh M như những người trong gia đình anh M đã khai.

Đinh Thị Đ, Nguyễn Thị L khai báo: Khi Đ , L và những người đi cùng đến thì sự việc đánh nhau đã xong. Không có ai mang theo công cụ hay dùng gạch ném hoặc tham gia gì. Ngoài ra, Đ còn giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo 02 chiếc kiếm và 01 tấm ảnh thể hiện tin nhắn từ số điện thoại 01222221021 lưu tên anh S nhắn tin đến vào ngày 05-02-2018 với nội dung: Em bảo vợ cầm đồ của ông trả ông trông nhà nhé; nhắn tin đến vào ngày 06-02-2018, nội dung: Mang kiếm vào cho anh, kiếm phong thủy của anh để trấn trạch, nên mang ngay cho anh nhé”. Theo Đ trình bày: trước khi K ra đầu thú có bảo Đ lấy 02 chiếc kiếm ở vườn chuối sau nhà mà K cất giấu để giao nộp cho Cơ quan điều tra. Còn tin nhắn trên là do anh S đã nhắn đến số điện thoại 0965810392 của K để xin lại 02 chiếc kiếm trên.

Qua xác minh cho thấy số điện thoại 01222221021 được đăng ký mang tên Nguyễn Văn S , còn số điện thoại 0965810392 được đăng ký mang tên Đặng Văn K . Tuy nhiên anh S không thừa nhận đã nhắn tin trên cho K . Theo anh S cho biết khi K đến nhà xin lỗi, anh S có để điện thoại của mình cho K cầm để lấy số rồi K có làm gì thì anh S không biết.

Quá trình điều tra cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện VB đã tiến hành đối chất giữa Đặng Văn K1 , Đặng Văn K với ông Nguyễn Văn M1 , anh Nguyễn Văn M , anh Nguyễn Văn S nhưng các bên vẫn giữ nguyên quan điểm và khẳng định lời khai của mình là đúng.

Kết thúc phần xét hỏi, Kiểm sát viên trình bày lời luận tội khẳng định việc truy tố Đặng Văn K về tội Cố ý gây thương tích theo khoản 2 Điều 134 BLHS năm 2015 là hoàn toàn có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật. Căn cứ vào tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 BLHS năm 2015 tuyên bố bị cáo Đặng Văn K phạm tội Cố ý gây thương tích và xử phạt K mức án từ 24 đến 36 tháng tù. Về trách nhiệm dân sự: Không đặt ra để giải quyết. Về vật chứng: Đề nghị Hội đồng xét xử tịch thu tiêu hủy 01 mũi giáo nhọn, 07 nửa viên gạch, 01 chiếc xẻng, 02 chiếc kiếm có đặc điểm như biên bản thu giữ . Về án phí: Bị cáo Đặng Văn K phải chịu án phí hình sự theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa bị cáo Đặng Văn K khai nhận vào ngày 19 tháng 01 năm 2018 do bức xúc về việc anh M nợ tiền không trả mà còn cãi nhau với bị cáo nên K đã dùng 01 chiếc giáo đâm 01 nhát trúng vào thắt lưng bên phải của anh Nguyễn Văn T gây thương tích có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 8% và chém nhiều nhát vào cẳng tay trái, cánh tay phải, bàn tay phải của anh Nguyễn Văn M gây thương tích có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%

Tại lời nói sau cùng, bị cáo trình bày: Đề nghị hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

- Về tố tụng:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện VB, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện VB, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

- Về tội danh:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo Đặng Văn K đã khai nhận: Vào ngày 19 tháng 01 năm 2018 tại gia đình anh Nguyễn Văn M ở thôn 2, xã VT, huyện VB , thành phố Hải Phòng do bức xúc về việc anh M nợ tiền không trả mà còn cãi nhau với bị cáo nên K đã dùng 01 chiếc giáo đâm 01 nhát trúng vào thắt lưng bên phải của anh Nguyễn Văn T gây thương tích có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 8% và chém nhiều nhát vào cẳng tay trái, cánh tay phải, bàn tay phải của anh Nguyễn Văn M gây thương tích có tỷ lệ tổn thương cơ thể là 12%. Hành vi của bị cáo thể hiện sự coi thường pháp luật, sẵn sàng dùng hung khí để hành hung người khác vì nguyên cớ nhỏ nhặt, hành vi của bị cáo thể hiện tính côn đồ, coi thường sức khỏe của người khác. Do đó, bị cáo đã phạm tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm đ khoản 2 Điều 134 BLHS 2015 với tình tiết định khung “dùng hung khí nguy hiểm” và “có tích chất côn đồ” theo điểm a, i khoản 1 Điều 134 BLHS năm 2015.

Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm đến sức khoẻ của người khác, gây mất trật tự, trị an xã hội. Do đó, đối với bị cáo cần phải xử lý nghiêm theo pháp luật hình sự của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam mới có tác dụng giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.

Xét về nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo Đặng Văn K có 01 tiền án, tại Bản án số 34/2010/HSST ngày 21-9-2010 Tòa án nhân dân huyện Vĩnh Bảo, thành phố Hải Phòng tuyên phạt K 24 tháng tù về tội Cưỡng đoạt tài sản quy định tại Điều 35 BLHS năm 1999. Tiền án này đến nay đã được xóa án tích. Quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo khai báo thành khẩn. Bị cáo đã tự nguyện bồi thường cho bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ L quan nhằm khắc phục hậu quả và được bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ L quan xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo. Sau khi phạm tội bị cáo đã đầu thú, đây là tình tiết giảm nhẹ bị cáo được hưởng theo quy định tại điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51 BLHS năm 2015. Xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, tuy nhiên căn cứ tính chất, hậu quả của hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo. Hội đồng xét xử xét cần phải áp dụng hình phạt cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định mới có tác dụng giáo dục bị cáo cũng như phòng ngừa chung.

Về thiệt hại dân sự: Bị cáo đã bồi thường thiệt hại cho bị hại Nguyễn Văn T , Nguyễn Văn M . Bị hại không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Quá trình xảy ra sự việc ông Nguyễn Văn M1, anh Nguyễn Văn S đều bị thương. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo đã ra Quyết định trưng cầu giám định thương tích đối với những người này nhưng ông M1 , anh S đều từ chối giám định vì thương tích nhẹ, không đáng kể. Bị cáo Nguyễn Văn K đã bồi thường thiệt hại cho ông M1, anh S không yêu cầu bồi thường thiệt hại. Ông M1, anh S không yêu cầu đề nghị gì nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

Anh Nguyễn Văn T , Nguyễn Văn M khai Đặng Văn K1 có hành vi dùng giáo tham gia đánh anh M , anh T , anh S . Ngoài lời khai của những người này, không có tài liệu chứng cứ khác chứng minh hành vi của Đặng Văn K1 . Mặt khác bản thân K1 không thừa nhận việc này, anh K1 khẳng định đến can ngăn K , không bàn bạc hay mang theo gì tham gia cùng K đánh những người này. Do đó Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện VB không xử lý đối với Đặng Văn K1 là phù hợp quy định của pháp luật.

Đối với 03 thanh niên lạ mặt có hành vi dùng tuýp sắt đánh anh M, anh T , anh S và một nhóm thanh niên đứng ngoài ném gạch vào nhà ông M1, trong đó có 01 người phụ nữ ném gạch trúng tay M như anh T , anh M , ông M1 , anh S khai. Quá trình điều tra hiện vẫn chưa xác định được những người này là ai ở đâu nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện Vĩnh Bảo đã tách ra tiếp tục xác minh, xử lý sau.

Về vật chứng: Cơ quan Cảnh sát điều tra đã nhận bàn giao thu giữ 01 mũi giáo nhọn, 01 chiếc xẻng, 07 nửa viên gạch và 02 chiếc kiếm. Số vật chứng này là công cụ bị cáo sử dụng vào việc phạm tội và là vật chứng không còn giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy.

Về án phí: Theo quy định tại khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội, bị cáo Đặng Văn K phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm b, s khoản 1 khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015;

- Căn cứ Điều 106, khoản 2 Điều 135, khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015

- Căn cứ Điều 6, Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 quy định về mức thu, miễn giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án của Ủy ban thường vụ Quốc hội;

Tuyên xử:

1. Tuyên bố bị cáo Đặng Văn K phạm tội “Cố ý gây thương tích”.

Xử phạt bị cáo Đặng Văn K 24 (Hai mươi bốn) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt thi hành án, trừ cho K 04 (Bốn) ngày bị tạm giữ từ ngày 10-02-2018 đến ngày 14-02-2018.

2. Về vật chứng: Xử tịch thu tiêu hủy 01 mũi giáo nhọn, 01 chiếc xẻng, 07 nửa viên gạch, 02 chiếc kiếm (Vật chứng có đặc điểm như biên bản bàn giao giữa Cơ quan cảnh sát điều tra công an huyện VB và Chi cục Thi hành án dân sự huyện VB).

3. Về án phí: Xử bị cáo Đặng Văn K phải nộp 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị cáo có quyền kháng cáo lên toà án cấp trên để yêu cầu xét xử theo trình tự phúc thẩm. Bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự, người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Cỡ chữ