vanban.org

Bản án 40/2018/HS-ST — Hình sự

TAND huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình Tuyên án 27/11/2018 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên ố ị cáo Nguyễn Thị H phạm t i “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt ị cáo Nguyễn Thị H 24 (hai m ơi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ị cáo ị tạm gi , tạm giam ngày 03/8/2018). Tiếp tục tạm giam ị cáo Nguyễn Thị H với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 27/11/2018 theo Quyết định của H i đ ng ét ử. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "Nguyễn Thị H - phạm tội cướp giật tài sản (điều 171 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên ố ị cáo Nguyễn Thị H phạm t i “Cướp giật tài sản”.
  • Căn cứ chính? Bộ luật Tố tụng hình sự; Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN QUẢNG TRẠCH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

TỈNH QUẢNG BÌNH
Bản án số: 40/2018/HS-ST
Ngày: 27-11-2018

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG H XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN QUẢNG TRẠCH, TỈNH QUẢNG BÌNH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lan Phương

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Duy Ph và ng Trần Quang Trung

- Thư ký phiên tòa: Bà Cao Thùy Linh - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình tham gia phiên tòa: Ông Phạm Văn Duẫn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2018, tại trụ sở y an nhân dân Quảng Phương, huyện Quảng Trạch, tỉnh Quảng Bình ét ử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 39/2018/TLST-HS ngày 09 tháng 11 năm 2018, theo Quyết định đưa vụ án ra ét ử số: 36/2018/QĐXXST-HS ngày 15/11/2018, đối với ị cáo:

Nguyễn Thị H, sinh ngày 10/9/1972; tại Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nơi cư tr : thôn V, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình; nghề nghiệp: Làm ru ng; trình đ văn hóa: lớp 7/12; dân t c: Kinh; giới tính: n ; t n giáo: kh ng; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn H u T đ chết và bà Nguyễn Thị Thu L; có ch ng: Biền Văn K đ ly h n và có 04 con; tiền án, tiền sự: không. Bị cáo ị áp dụng iện pháp ngăn chặn tạm gi , tạm giam từ ngày 03/8/2018 đến nay. Bị cáo ị tạm giam tại Trại tạm giam C ng an tỉnh Quảng Bình. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

- N i bị hại:

Bà Ng Thị L, sinh năm 1938. Địa chỉ: th n Đ, Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Có mặt

N i bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho n i bị hại: ng Nguyễn Bá T -Trợ gi p viên pháp lý của Trung tâm trợ gi p pháp lý Nhà nước tỉnh Quảng Bình. Có mặt.

- Nhữn n i làm chứn :

Cháu Phạm Xuân C, sinh năm 2004. Địa chỉ: th n Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

N i đại diện theo pháp luật của cháu Phan Xuân C n : chị Phạm Thị L là mẹ của cháu Cường . Địa chỉ: th n Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

Cháu Ngô Quang S, sinh năm 2004. Địa chỉ: th n Đ, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

N i đại diện theo pháp luật của cháu Ngô Quang S: anh Ng Văn B (là ố của cháu S). Địa chỉ: th n Đ ng D, xã Q, huyện Q, tỉnh Quảng Bình. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong h sơ vụ án và diễn iến tại phiên tòa, n i dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 07 giờ 00 ph t ngày 02/8/2018, à Ng Thị L đến UBND Q để nhận tiền chính sách gia đình liệt sỹ hàng tháng được số tiền 1.420.000 đ ng. Sau đó à L đi để về nhà thì gặp Nguyễn Thị H điều khiển e m t nh n hiệu YAMAHA, loại e SIRIUS màu sơn đỏ đen, iển kiểm soát 73E1-028.70 nên bà L vẫy tay in đi nhờ e. Trên đường đi, H iết được à L đi nhận tiền chính sách về nên đ nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản của à nên đ dùng tay trái giật t i ách của à L làm bà L ị ng uống đường, H nổ máy điều khiển e ỏ chạy, à L đứng dậy chạy đuổi theo, h hoán nhưng đuổi kh ng kịp. Nguyễn Thị H kiểm tra t i ách và tài sản vừa cướp giật được của à Ng Thị L lấy toàn số tiền 1.420.000 đ ng, các giấy tờ và t i ách của à L, Nguyễn Thị H để m t ên mép đường r i đi e về nhà. Sau khi cướp giật được số tiền của à L, Nguyễn Thị H đ dùng số tiền 700.000 đ ng đi mừng đám cưới, tiêu ài cá nhân 300.000 đ ng, còn lại 420.000 đ ng Nguyễn Thị H cất gi ở nhà, sau đó đ giao n p cho Cơ quan điều tra.

Về trách nhiệm bồi thường thiệt hại: Quá trình điều tra, gia đình Nguyễn Thị H và người ị hại Ng Thị L đ thỏa thuận, ị cáo i thường tiền đ chiếm đoạt, tiền viện phí và tiền i thường tổn thất về tinh thần số tiền 3.400.000 đ ng. Cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an huyện Quảng Trạch đ trả lại cho à L số tiền 420.000.000 đ ng mà ị cáo H cướp giật của à L. Tổng c ng à L nhận được số tiền 3.820.000 đ ng.

Về vật chứng v án: Quá trình điều tra, cơ quan cảnh sát điều tra đ thu gi và trả lại cho à Ng Thị L: 01 m t t i ách ni lông; 01 Thẻ ảo hiểm y tế; 02 Sổ lĩnh tiền ưu đãi hàng tháng; 02 Biên nhận thanh toán tiền điện và số tiền 420.000 đ ng Bốn trăm hai mươi nghìn đ ng).

Trả lại cho Biền Văn H là người quản lý tài sản hợp pháp của Nguyễn Thị H: 01 điện thoại di đ ng nh n hiệu Itel loại it2120 đ qua sử dụng.

Đối với vật chứng là 01 chiếc e m t nh n hiệu YAMAHA, loại e SIRIUS màu sơn đỏ đen, iển kiểm soát 73E1-028.70, số khung RLCS5C640BY556959, số máy 5C64556966, đây là e ị cáo H dùng làm phương tiện cướp giật tài sản của à L. Quá trình điều tra và ác minh của Phòng Cảnh sát giao th ng C ng an tỉnh Quảng Bình ác định chiếc e trên thu c sở h u của anh Tạ Văn Q nhờ em trai là anh Tạ Tấn H mua, có địa chỉ tại xã I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Khi mua e có iển kiểm soát 81U1- 028.01, số khung 5C640BY556959, số máy 5C64556966 do anh Q ị mất tr m vào khoảng tháng 8 năm 2012.

Tại Cáo trạng số: 40/CT-VKSQT ngày 07 tháng 11 năm 2018, Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch đ truy tố ị cáo Nguyễn Thị Ho về t i “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 B luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Quảng Trạch gi nguyên quan điểm truy tố đối với ị cáo theo toàn n i dung ản cáo trạng, có xem xét đến các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và nhân thân của ị cáo, đề nghị H i đ ng ét ử:

Áp dụng điểm g khoản 2 Điều 171; các điểm , s Khoản 1 Điều 51, Khoản 2 Điều 51 của B luật hình sự; ử phạt ị cáo Nguyễn Thị H từ 42 đến 48 tháng tù. Về trách nhiệm i thườngthiệt hại: kh ng em ét. Về ử lý vật chứng: Tạm gi 01 chiếc e m t nh n hiệu YAMAHA, loại e SIRIUS màu sơn đỏ đen, iển kiểm soát 73E1- 028.70, số khung RLCS5C640BY556959, số máy 5C64556966 vì đây là vật chứng liên quan trong vụ án Tr m cắp tài sản khác.

Tại phiên tòa người ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người ị hại có ý kiến: Nhất trí n i dung ản cáo trạng đ truy tố ị cáo Nguyễn Thị H phạm t i “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm g Khoản 2 Điều 171 của B luật hình sự. Người ị hại là à Ng Thị L đ 80 tuổi, là người già yếu, kh ng có khả năng tự vệ nhưng đ ị ị cáo Nguyễn Thị H cướp giật tài sản với số tiền 1.420.000 đ ng, đề nghị ét ử nghiêm và có em ét đến các tình tiết giảm nhẹ của ị cáo H đ khai áo thành khẩn, có thái đ ăn năn hối cải, đ i thường đầy đủ thiệt hại, ị cáo mới phạm t i lần đầu, người ị hại in giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo.

Tại phiên tòa, ị cáo H đ khai nhận toàn hành vi phạm t i của mình và nhất trí với t i danh, khung hình phạt, mức hình phạt mà Viện kiểm sát nhân dân huyện Q đ truy tố, đề nghị H i đ ng ét ử em ét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở n i dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong h sơ vụ án đ được tranh tụng tại phiên tòa, H i đ ng ét ử nhận định như sau:

Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đ thực hiện đ ng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của B luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa ị cáo, người ị hại, người ảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho người ị hại kh ng có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đ thực hiện đều hợp pháp.

Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Thị H đ thừa nhận có hành vi dùng tay giật t i ách của à Ng Thị L làm bà L ng uống đường để chiếm đoạt số tiền 1.420.000 đ ng. Hành vi của Nguyễn Thị H là nguy hiểm cho h i, thu c trường hợp phạm t i đối với người già yếu, đ 80 tuổi nên phải ị truy cứu trách nhiệm hình sự về t i “Cướp giật tài sản” theo điểm g khoản 2 Điều 171 B luật hình sự.

Xét thấy, lời khai của ị cáo tại phiên tòa và trong quá trình điều tra là hoàn toàn phù hợp, thống nhất với lời khai của người ị hại, người làm chứng và các tài liệu, chứng cứ khác đ thu thập được tại h sơ vụ án và vật chứng thu gi . Do vậy, H i đ ng ét ử đ có đủ căn cứ để kết luận ị cáo Nguyễn Thị H phạm t i “Cướp giật tài sản” theo quy định tại điểm g khoản 2 Điều 171 của B luật hình sự.

Xét tính chất, mức đ nguy hiểm cho h i của hành vi phạm t i, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân cùng các tình tiết khác có ý nghĩa cho việc giải quyết vụ án, H i đ ng ét ử thấy rằng:

Hành vi phạm t i mà ị cáo đ thực hiện là nguy hiểm cho h i, đ trực tiếp âm phạm đến quyền sở h u về tài sản của người khác được pháp luật ảo vệ, gây tâm lý hoang mang cho người dân có tài sản đang lưu th ng trên đường, gây mất trật tự h i tại địa phương. Hành vi phạm t i của ị cáo thể hiện sự liều lĩnh và táo ạo, có thể gây nguy hiểm cho tính mạng của người ị hại là à L là người đ già yếu, kh ng có khả năng tự vệ. Điều đó đ thể hiện thái đ coi thường pháp luật, ất chấp sức khỏe, tính mạng của người khác. Bị cáo nhận thức được hành vi nhanh chóng giật lấy tài sản r i tẩu thoát để chiếm đoạt tài sản là vi phạm pháp luật nhưng vì lười lao đ ng, thích hưởng thụ nên đ cố ý thực hiện hành vi cướp giật tài sản của người ị hại. Vì vậy, cần thiết phải ét ử ị cáo với hình phạt nghiêm, tương ứng với hậu quả, tính chất, mức đ nguy hiểm cho h i của hành vi phạm t i mà ị cáo đ gây ra. Xét thấy cần thiết phải cách ly ị cáo ra ngoài h i m t thời gian mới đủ tác dụng giáo dục và rèn luyện ị cáo trở thành người c ng dân tốt có ý thức tuân thủ pháp luật.

Xét về tình tiết tăng nặng, ị cáo kh ng có tình tiết tăng nặng.

Xét về các tình tiết giảm nhẹ, nhân thân bị cáo thấy rằng: Bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa đ thành khẩn khai áo, ăn năn hối cải; ị cáo mới phạm t i lần đầu, chưa có tiền án, tiền sự; ị cáo đ chủ đ ng i thường thiệt hại cho người ị hại, ị cáo có con còn nhỏ, đ ly h n phải đơn thân nu i con. Tại phiên tòa, người ị hại đ có ý kiến in đề nghị H i đ ng ét ử giảm nhẹ hình phạt cho ị cáo. Đây là nh ng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51 của B luật hình sự được áp dụng cho ị cáo. Đ ng thời áp dụng Điều 54 B luật hình sự để ét ử cho ị cáo được hưởng dưới mức thấp nhất của khung hình phạt là phù hợp

Về trách nhiệm i thường thiệt hại: Người ị hại đ nhận đầy đủ số tiền 3.400.000 đ ng tiền do ị cáo i thường và 420.000 đ ng do Cơ quan cảnh sát điều tra C ng an huyện Quảng Trạch trả lại. Trong quá trình điều tra và đến tại phiên toà người ị hại không yêu cầu ị cáo phải i thường gì thêm, nên H i đ ng ét ử kh ng xem xét.

Về ử lý vật chứng: Đối với vật chứng là 01 chiếc e m t nh n hiệu YAMAHA, loại e SIRIUS màu sơn đỏ đen, iển kiểm soát 73E1-028.70, số khung RLCS5C640BY556959, số máy 5C64556966, đây là e ị cáo H dùng làm phương tiện cướp giật tài sản của à L nhưng trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa, ị cáo H kh ng cung cấp, uất trình cho Tòa án giấy tờ e hợp lệ chứng minh thu c quyền sở h u của ị cáo. Đ ng thời đây là phương tiện ị cáo dùng để phạm t i theo quy định của pháp luật phải tịch thu n p ngân sách nhà nước giá trị chiếc e này. Tuy nhiên kết quả ác minh của Phòng Cảnh sát giao th ng C ng an tỉnh Quảng Bình ác định chiếc e trên thu c sở h u của anh Tạ Văn Q nhờ em trai là anh Tạ Tấn H mua, có địa chỉ tại I, huyện Đ, tỉnh Gia Lai. Khi mua xe có iển kiểm soát 81U1- 028.01, số khung 5C640BY556959, số máy 5C64556966 do anh Q ị mất tr m vào khoảng tháng 8 năm 2012. Xét thấy vật chứng này liên quan đến m t vụ án Tr m cắp tài sản khác nên cần được tạm gi để phục vụ c ng tác điều tra, ác minh. Khi nào có kết quả sẽ ử lý sau.

Về án phí: Bu c bị cáo Nguyễn Thị H phải chịu tiền án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào: điểm g, khoản 2 Điều 171; các điểm b, s khoản 1 Điều 51; khoản 2 Điều 51; Điều 54 của B luật hình sự; khoản 2 Điều 136 B luật Tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14 ngày 30/12/2016 của y an Thường vụ Quốc h i.

1. Tuyên ố ị cáo Nguyễn Thị H phạm t i “Cướp giật tài sản”.

Xử phạt ị cáo Nguyễn Thị H 24 (hai m ơi bốn) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày ị cáo ị tạm gi , tạm giam ngày 03/8/2018).

Tiếp tục tạm giam ị cáo Nguyễn Thị H với thời hạn 45 ngày, kể từ ngày tuyên án sơ thẩm ngày 27/11/2018 theo Quyết định của H i đ ng ét ử.

2. Về trách nhiệm i thường thiệt hại: không xem xét.

3. Về ử lý vật chứng: Tuyên Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch tiếp tục tạm gi 01 chiếc e m t để phục vụ c ng tác điều tra, ác minh. Chiếc e m t có đặc điểm được m tả cụ thể tại Biên ản giao nhận vật chứng gi a cơ quan Cảnh sát điều tra C ng an huyện Quảng Trạch với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Quảng Trạch ngày 12/11/2018. Khi nào có kết quả sẽ ử lý sau.

4. Về án phí: Bu c ị cáo Nguyễn Thị H phải chịu 200.000 đ ng án phí hình sự sơ thẩm để sung vào c ng quỹ nhà nước.

Bị cáo, người ị hại có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo ản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm (ngày 27/11/2018).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Cỡ chữ