- Tranh chấp gì? án hình sự — "nguyễn Minh V- Trần Đình Ng - phạm tội trộm cắp tài sản (điều 173 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của BLHS năm 2015)"
- Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo: Huỳnh Ngọc Vũ, phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
- Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 51 Bộ luật Hình sự; Điều 173 Bộ luật Hình sự
| TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2018/HS-ST Ngày 19/9/2018. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN NÚI THÀNH, TỈNH QUẢNG NAM
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Đinh Thị Huỳnh Lý.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Trần Thị Long.
- Bà Nguyễn Thị Xuân.
Thư ký phiên toà: Bà Phạm Thị Mùi - Cán bộ Toà án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam tham gia phiên toà: Ông Trần Văn Tuấn - Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 9 năm 2018, tại trụ sở, Toà án nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 37/2018/TLST-HS ngày 17 tháng 8 năm 2018 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 40/2018/QĐXXST-HS ngày 06 tháng 9 năm 2018 đối với các bị cáo:
1/ Nguyễn Minh V; Giới tính: Nam; Sinh ngày 10 tháng 9 năm 1984 tại: Núi Thành, Quảng Nam. Nơi cư trú: Thôn Mỹ B, xã Tam H, huyện Núi Th, tỉnh Quảng Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Thợ hồ. Con ông: Nguyễn Minh T, sinh năm: 1957 và bà Lương Thị D, sinh năm: 1956. Gia đình có 03 con, bị cáo là con thứ hai. Vợ Đinh Thị R, sinh năm 1996. Có 01 con sinh năm 2016. Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 30/12/2004, bị TAND huyện Núi Thành xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 30/8/2005. Ngày 29/6/2007, bị TAND tỉnh Quảng Nam xử phúc thẩm tuyên phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Ngày 30/01/2008, bị TAND huyện Núi Thành xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của bản án ngày 29/6/2007 là 42 tháng tù, chấp hành xong hình phạt ngày 02/5/2010. Ngày 22/3/2012, bị TAND huyện Núi Thành xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 25/10/2014. Ngày 25/10/2016, TAND huyện Núi Thành xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/01/2018.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
2/ Trần Đình Ngh; Giới tính: Nam. Sinh ngày 09 tháng 9 năm 1995 tại: Núi Thành, Quảng Nam. Nơi cư trú: Thôn Nam S, xã Tam H, huyện Núi Th, tỉnh Quảng Nam. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 09/12. Nghề nghiệp: Cơ khí. Con ông: Trần Văn Th, sinh năm: 1961 và bà Nguyễn Thị Y, sinh năm: 1964. Gia đình có 02 con, bị cáo là con út. Bị cáo chưa có vợ con. Tiền sự: Không.
Tiền án: Ngày 25/10/2016, TAND huyện Núi Thành xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/04/2017.
Nhân thân: Ngày 24/10/2013, bị TAND huyện Núi Thành xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 18/7/2014 (bị can chưa chấp hành nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm). Tuy nhiên, lần phạm tội này bị can dưới 18 tuổi nên không tính tiền án.
Bị cáo đang bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: “Cấm đi khỏi nơi cư trú”.
Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
1/ Bà Nguyễn Thị Ph, sinh năm 1973, trú tại: thôn Vĩnh Đ, xã Tam H, huyện Núi Th, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
2/ Ông Lương X, sinh năm 1973, trú tại: thôn Vĩnh Đ, xã Tam H, huyện Núi Th, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1/ Ông Phạm Ngọc Ph, sinh năm 1991, trú tại: thôn Đông B, xã Tam G, huyện Núi Th, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
2/ Ông Nguyễn Minh T, sinh năm 1957, trú tại: thôn Mỹ B, xã Tam H, huyện Núi Th, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án
được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 12/4/2018, sau khi nhậu tại quán vịt lộn của bà Vàng thuộc thôn Mỹ B, xã Tam H, huyện Núi Th, tỉnh Quảng Nam xong, lúc đi ra lấy xe Phạm Ngọc Ph rủ Ngh đi bắt trộm gà, Ngh đồng ý, Nguyễn Minh V cũng có mặt tại đó nhưng tưởng Ngh và Ph đi kiếm mồi nhậu nên đồng ý đi theo. Khi đi Nghĩa điều khiển xe mô tô BKS 92N4- -2754 của V chở V ngồi sau, còn Ph điều khiển xe mô tô BKS 92N1-308.22 đi một mình. Khi đến khu dân cư Vĩnh Đ, xã Tam H, cả 03 để xe phía ngoài đường, Ngh và Ph đi bộ hướng vào nhà bà Nguyễn Thị Ph cách chỗ để xe khoảng 100m, còn V ở ngoài xe. Lợi dụng nhà bà Ph đã tắt đèn ngủ, Ngh và Ph đột nhập qua hàng rào từ phía sau nhà, Ngh chui vào chuồng gà bắt trộm 01 con gà rồi chui ra, Ph tiếp tục chui vào chuồng gà bắt trộm 02 con gà nữa, P và Ngh mang gà theo đường cũ đi ra ngoài chỗ để xe. Sau đó, Ngh đưa gà cho Phước cầm rồi đi tìm thấy 01 cái bao tải dùng để đựng rác, Ngh đổ rác ra và P bỏ 03 con gà vào bao rồi Ngh để bao đựng gà trên xe mô tô BKS 92 N4- 2754 của V. Lúc này V biết Ngh và Ph đi bắt trộm gà nên cùng Ngh và Ph đi bộ hướng vào nhà của ông Lương X, thấy trong nhà đã tắt đèn, cả 03 đột nhập từ phía trước vào sân nhà, phát hiện chuồng gà đặt phía trước nhà, V liền chui vào trong chuồng gà, còn Ngh và Ph đứng phía trước chuồng gà, V bắt trộm 02 con gà ra ngoài đưa cho Ngh, Ngh chuyền tay đưa cho Ph cầm, V tiếp tục vào bắt thêm 01 con gà nữa rồi đưa cho Ngh, Ngh vừa cầm con gà thì bị ông Ú phát hiện và tri hô, Ngh vứt lại con gà rồi bỏ chạy, Ph hai tay ôm 02 con gà cũng bỏ chạy theo. Ông Ú đuổi theo Ngh và Ph, còn V trốn lại trong chuồng gà. Ông Ú chạy được một đoạn thì phát hiện thấy 02 xe mô tô trên và 01 bao đựng gà đang để trên xe nên không đuổi theo nữa mà đứng lại giữ xe rồi báo với Công an xã Tam H đến giải quyết. V đi ra định lấy xe nhưng ông Ú không cho nên V bỏ về nhà mình, Ngh chạy thoát được về nhà ngủ, còn Ph trên đường bỏ chạy đã vứt 02 con gà tại khu vực đống cát phía sau nhà ông Ú. Sau đó đến Công an xã Tam H trình diện. Công an xã Tam H cùng với ông Ú và Ph đã tổ chức xác minh truy tìm 02 còn gà trên nhưng không tìm được.
Quá trình điều tra Nguyễn Minh V, Trần Đình Ngh và Phạm Ngọc Ph đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án.
Tại bản kết luận định giá tài sản số 23/2018/KLGTS ngày 04/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng Hình sự huyện Núi Thành kết luận giá trị thiệt hại tài sản như sau:
- 02 (hai) con gà mái kiến, loại gà ta, tổng trọng lượng 3,2 kg, giá trị: 432.000 đồng.
- 01 (một) con gà mái kiến, loại gà ta, tổng trọng lượng 1,5 kg, giá trị: 202.500 đồng.
- 02 (hai) con gà mái nòi, loại gà ta, tổng trọng lượng 4,4 kg, giá trị: 572.000 đồng.
- 01 (một) con gà trống nòi, loại gà ta, tổng trọng lượng 02 kg, giá trị: 250.000 đồng.
Tổng giá trị thiệt hại về tài sản là 1.456.500 đồng (một triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn năm trăm đồng).
- Việc thu giữ, tạm giữ tài liệu, đồ vật; xử lý vật chứng:
+ 02 (hai) con gà mái kiến, có bộ lông màu vàng –đen, chân màu vàng, trọng lượng 1,6 kg/01 con. 01 (một) con gà mái kiến, có bộ lông màu vàng –đen, chân màu đen chì, trọng lượng 1,5 kg. (Đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là bà Nguyễn Thị Ph).
- 01 (một) con gà trống nòi, có bộ lông màu vàng, chân màu đen chì, trọng lượng 02 kg. (Đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Lương X).
- 01 (một) xe mô tô BKS 92N1-308.22, nhãn hiệu Yamaha – Sirius, màu sơn Xanh – đen (không kiểm tra chất lượng bên trong). (Đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Phạm Văn Ng).
- 01 con dao Thái Lan dài 22,5cm, lưỡi bằng kim loại màu trắng mũi nhọn, cán bằng nhựa màu đen và 01 đôi dép màu nâu – xám, cỡ 41, trên mặt có DUWA. (Đã trả lại cho chủ sở hữu hợp pháp là Phạm Ngọc Ph, Phạm Đình Th).
- 01 (một) xe mô tô BKS 92N4-2754, nhãn hiệu Damsan-Wave, màu đỏ (không kiểm tra chất lượng bên trong).
- Phần dân sự: Bị hại đã được bồi thường thiệt hại nên không yêu cầu gì thêm.
Đối với Phạm Ngọc Ph tuy có hành vi cùng với Nguyễn Minh V và Trần Đình Ngh lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng Ph chưa có tiền án về tội chiếm đoạt tài sản và hậu quả thiệt hại chưa đủ định lượng nên chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Ph về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 11/6/2018, Công an huyện Núi Thành đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Ngọc Ph về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng.
Tại Bản cáo trạng số 38/QĐ-VKS ngày 15/8/2018 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam đã truy tố các bị cáo Nguyễn Minh V và Trần Đình Ngh, về tội "Trộm cắp tài sản" theo điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo V, Ngh về tội: “Trộm cắp tài sản”, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử xem xét áp dụng điểm b khoản 1 Điều 173, điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Minh V từ 12 đến 18 tháng tù; Xử phạt bị cáo Trần Đình Ngh từ 09 đến 12 tháng tù. Về vật chứng: đề nghị tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô BKS 92N4-2754, nhãn hiệu Damsan-Wave, màu đỏ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Trong quá trình điều tra, truy tố, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của các cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng là hợp pháp.
Tại phiên toà sơ thẩm các bị cáo Nguyễn Minh V, Trần Đình Ngh khai nhận vào khoảng 22 giờ 00 phút, ngày 12/4/2018 tại thôn Vĩnh Đ, xã Tam H, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam, sau khi nhậu xong thì Phạm Ngọc Ph rủ Trần Đình Ngh đi trộm cắp gà về dùng làm mồi nhậu, Ngh đồng ý, lúc này V tưởng Ph và Ngh đi mua mồi nhậu nên đồng ý đi theo, cả ba điều khiển xe mô tô đến gần nhà bà Nguyễn Thị Ph, cách khoảng 100m. Lúc này, V đứng ngoài xe mô tô, còn Ngh và Ph đột nhập vào chuồng gà của bà Ph lén lút bắt trộm 03 (ba) con gà rồi tẩu thoát ra ngoài đến nơi để xe mô tô. Lúc này, V biết Ngh và Ph trộm cắp gà nên cùng với Ngh và Ph tiếp tục đột nhập vào nhà ông Lương X lén lút trộm cắp 03 (ba) con gà nữa thì bị phát hiện. Tổng giá trị thiệt hại về tài sản là 1.456.500 đồng (một triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn năm trăm đồng). Các bị cáo Nguyễn Minh V và Trần Đình Ngh đã có tiền án về tội trộm cắp tài sản và chưa được xóa án tích.
Xét lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị hại, kết luận định giá tài sản số 23/2018/KLGTS ngày 04/5/2018 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện Núi Thành và các tài liệu chứng cứ có tại hồ sơ vụ án đã được tranh tụng công khai tại phiên toà, do vậy Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận các bị cáo Trần Đình Ngh và Nguyễn Minh V, phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại điểm b khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự như cáo trạng truy tố của Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành là có căn cứ, đúng pháp luật.
Xét tính chất, mức độ và hậu quả do hành vi phạm tội của bị cáo gây ra thì thấy: tài sản hợp pháp của công dân được pháp luật bảo vệ. Mọi hành vi xâm phạm một cách bất hợp pháp đều bị pháp luật nghiêm trị. Tuy các bị cáo cho rằng bản thân trộm gà để về làm mồi nhậu, không có mục đích bán lấy tiền tiêu xài cá nhân, mặc dù các bị cáo không bàn bạc, phân công, tổ chức trước nhưng do bản chất lười lao động bị cáo thể hiện sự xem thường pháp luật, xem thường tài sản của người khác nên đã thực hiện hành vi phạm tội. Hơn nữa, các bị cáo có đủ năng lực hành vi để nhận biết hành vi của các bị cáo là vi phạm pháp luật, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an trên địa bàn, xâm phạm trực tiếp đến tài sản của bà Ph, ông Ú. Các bị cáo là người có đủ năng lực trách nhiệm hình sự nên phải chịu trách nhiệm về hành vi đã thực hiện. Các bị cáo thực hiện hành vi trộm cắp có tổng giá trị là 1.456.500 đồng, tuy nhiên trước đó các bị cáo đã có tiền án về hành vi trộm cắp tài sản nên cần phải có một mức án nghiêm khắc và cần phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian để răn đe, giáo dục riêng đối với các bị cáo và phòng ngừa chung cho xã hội.
Về nhân thân của bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Bị cáo Nguyễn Minh V: Ngày 30/12/2004, bị TAND huyện Núi Thành xử phạt 15 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 30/8/2005. Ngày 29/6/2007, bị TAND tỉnh Quảng Nam xử phúc thẩm tuyên phạt 18 tháng tù về tội “Cố ý làm hư hỏng tài sản”. Ngày 30/01/2008, bị TAND huyện Núi Thành xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”. Tổng hợp hình phạt của bản án ngày 29/6/2007 là 42 tháng tù, chấp hành xong hình phạt ngày 02/5/2010. Ngày 22/3/2012, bị TAND huyện Núi Thành xử phạt 36 tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 25/10/2014. Ngày 25/10/2016, TAND huyện Núi Thành xử phạt 18 (mười tám) tháng tù về tội trộm cắp tài sản, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/01/2018. Sau khi phạm tội bị cáo thể hiện việc khai báo thành khẩn, tự nguyện sửa chữa, bồi thường thiệt hại; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn, hoàn cảnh gia đình khó khăn, gia đình có bà Nội và cha có công với nước ( được tặng huy chương kháng chiến). Đây là các tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định hình phạt phù hợp đối với bị cáo.
Bị cáo Trần Đình Ngh: Ngày 24/10/2013, bị TAND huyện Núi Thành xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt ngày 18/7/2014. Ngày 25/10/2016, TAND huyện Núi Thành xử phạt 09 (chín) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 22/04/2017. Sau khi phạm tội bị cáo thể hiện việc khai báo thành khẩn; tự nguyện sữa chữa, bồi thường thiệt hại; phạm tội nhưng gây thiệt hại không lớn; hoàn cảnh gia đình khó khăn. Do vậy, Hội đồng xét xử sẽ xem xét các tình tiết giảm nhẹ này khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.
Các bị cáo có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về xử lý vật chứng:
- Toàn bộ số tài sản bị mất (số gà của ông Ú, bà Ph) và 01 (một) xe mô tô BKS 92N1-308.22, 01 con dao Thái Lan, 01 đôi dép màu nâu – xám đã được Cơ quan CSĐT Công an huyện Núi Thành trả lại cho chủ sở hữu nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- Đối với 01 xe mô tô BKS 92N4-2754, nhãn hiệu Damsan-Wave, màu đỏ do ông Nguyễn Quang V đứng tên chủ sở hữu. Xe này được mua bán nhiều lần và sau đó ông Nguyễn Minh T là cha bị cáo Nguyễn Minh V mua lại của ông Trương M. Ông T cho bị cáo V chiếc xe này để sử dụng. Bị cáo V sử dụng xe mô tô BKS 92N4-2754 làm phương tiện phạm tội nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với Phạm Ngọc Ph tuy có hành vi cùng với Nguyễn Minh V và Trần Đình Ngh lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác nhưng Ph chưa có tiền án về tội chiếm đoạt tài sản và hậu quả thiệt hại chưa đủ định lượng nên chưa đến mức phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với Ph về tội “Trộm cắp tài sản”. Ngày 11/6/2018, Công an huyện Núi Thành đã ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính đối với Phạm Ngọc Ph về hành vi “Trộm cắp tài sản”, bằng hình thức phạt tiền 1.500.000 đồng là có căn cứ.
Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: điểm b khoản 1 Điều 173; các điểm b, h, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Bộ luật hình sự năm 2015 đã được sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Tuyên bố các bị cáo Nguyễn Minh V, Trần Đình Ngh, phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt bị cáo Nguyễn Minh V, 12 ( Mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Xử phạt bị cáo Trần Đình Ngh, 09 ( Chín) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt đi thi hành án.
Về trách nhiệm dân sự: Bị hại đã nhận lại đủ tài sản và không yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử không đặt vấn đề giải quyết.
Về vật chứng: Áp dụng các Điều 46, 47 Bộ luật hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017, Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự: Tuyên tịch thu sung công quỹ Nhà nước 01 xe mô tô BKS: 92N4-2754, nhãn hiệu Damsan-Wave, màu đỏ.
( Chiếc xe này hiện đang được lưu giữ tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Núi Thành theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 23/8/2018)
Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ quốc hội; Bị cáo Nguyễn Minh V, Trần Đình Ngh mỗi bị cáo phải chịu 200.000 đồng (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, những người tham gia tố tụng có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, những người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ bản án, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
- Các cơ quan tiến hành tố tụng;
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ, án văn.
(ĐÃ KÝ)
Đinh Thị Huỳnh Lý Dương Minh Ngọc Trần Thị Long
Đinh Thị Huỳnh Lý
Căn cứ vào: khoản 1 Điều 138, các điểm g, p khoản 1, khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 41, Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thương vụ quốc hội;
Tuyên bố bị cáo Lương Hải Dũng phạm tội: “Trộm cắp tài sản”
Xử phạt bị cáo Lương Hải Dũng 12 (mười hai) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo bị tạm giữ là ngày 02 tháng 10 năm 2017.
Về án phí: bị cáo Hà Văn Tiến phải chịu 200.000đ (hai trăm ngàn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo, bị hại, người bào chữa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Đối với người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm. Nơi nhận:
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà
- Các cơ quan tiến hành tố tụng;
- Những người tham gia tố tụng;
- Lưu hồ sơ, án văn.
Bùi Đình Dũng
Tại phiên tòa đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Dũng. Đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm c khoản 2 Điều 173, điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 của Bộ luật hình sự năm 2015, xử phạt bị cáo Lương Hải Dũng từ ..04 đến 05 năm tù. Về tang vật tạm giữ:
Tại phiên Tòa, bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ đồng ý với quan điểm luận tội của Viện kiểm sát, đồng thời xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 03/01/2018, tại nhà ông Lương Ngọc Trước thuộc thôn Hòa An, xã Tam Giang, huyện Núi Thành, tỉnh Quảng Nam. Lương Hải Dũng đã có hành vi lén lút lấy trộm số tiền 50.000.000 đồng của ông Lương Ngọc Trước.
Hành vi trên của bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ đã phạm vào tội “ Mua bán trái phép chất ma túy”. Tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 194 Bộ luật hình sự. Vì vậy, Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Núi Thành đã truy tố đối với bị cáo là đúng người, đúng tội.
Xét tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, thấy rằng: Methamphetamin là loại chất gây nghiện nằm trong danh mục các chất ma túy bị pháp luật Nhà nước ta cấm sản xuất, tàng trữ, vận chuyển, mua bán. Tệ nạn ma túy là một trong những thảm họa đối với con người và cộng đồng xã hội, gây nhiều tác động tiêu cực đến đời sống, hủy hoại sức khỏe, phẩm giá của con người, là nguyên nhân của nhiều loại tội phạm khác. Nhà nước ta đang tập trung mọi cách để ngăn chặn và đẩy lùi loại tệ nạn này. Bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ là người trưởng thành, có đủ năng lực pháp luật và năng lực hành vi, bị cáo nhận thức được sự nguy hiểm và những hậu quả nghiêm trọng mà ma túy gây ra, tuy nhiên vì ham lợi và muốn có ma túy để sử dụng mà bị cáo đã bất chấp dẫn đến phạm tội và phạm tội nhiều lần. Hành vi đó của bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, ảnh hưởng trật tự trị an trong địa phương. Do đó, cần phải có mức án nghiêm khắc đối với bị cáo nhằm tác dụng giáo dục riêng và phòng ngừa chung cho xã hội.
Xét về nhân thân: bị cáo có nhân thân tốt, hoàn cảnh gia đình khó khăn, con còn nhỏ. Tại phiên tòa bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình, khai nhận toàn bộ các lần phạm tội trước đó. Bị cáo có bà ngoại là bà Dương Thị Hạnh có công trong các thời kỳ chống Pháp, chống Mỹ được tặng huy chương, bằng khen. Do vậy, Hội đồng xét xử sơ thẩm thống nhất với quan điểm của Kiểm sát viên áp dụng điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự để giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, xử bị cáo dưới mức thấp nhất của khung hình phạt được quy định là phù hợp.
Bị cáo Vũ không có nghề nghiệp, có hoàn cảnh gia đình khó khăn nên không áp dụng hình phạt bổ sung.
* Về vật chứng:
- 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu XPHONE ( chưa kiểm tra chất lượng bên trong) có gắn 02(hai) thẻ sim mang số thuê bao 01666227600 và 01678609046 của bị cáo Vũ dùng làm phương tiện phạm tội, còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước.
- Tang vật không dùng vào việc phạm tội cần trả lại gồm: Bùi Văn Dương 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh đã bị nứt màn hình cảm ứng, có gắn thẻ sim mang số thuê bao 0968490239; Nguyễn Cường 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, có gắn thẻ sim mang số thuê bao 01665513036; Võ Thái Bình Dương 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, có gắn thẻ sim mang số thuê bao 01677750884.
- 01(một) chai nước bằng nhựa có dòng chữ VINALAND, phía trên nắp chai có cắm ống hút màu trắng – tím bằng nhựa được phát hiện tại dưới nền phòng số 5 nhà nghĩ Duy Ninh liên quan đến việc phạm tội, không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
Các tang vật trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/12/2017.
- Đối với 01 mãnh giấy trắng (card điện thoại), trên giấy có chữ VIETTEL, mệnh giá 100.000 đồng, mã nạp: 605481954780 và 01 mãnh giấy trắng trên giấy có ghi 04 mã số card điện thoai VIETTEL mỗi mã số thẻ mệnh giá 50.000đồng của Võ Thái Bình Dương giao nộp cần tiếp tục thu giữ lưu hồ sơ vụ án.
Số tiền bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ thu được từ việc mua bán trái phép chất ma túy gồm: bán cho Võ Thái Bình Dương 02 lần: lần 1 số tiền 300.000đồng, lần 02 số tiền 300.000đồng được quy đổi bằng hình thức card điện thoại trong đó có 01 card điện thoại trị giá 100.000đồng bị cáo Vũ chưa sử dụng, hiện đang lưu hồ sơ vụ án, do vậy 02 lần bán ma túy cho Võ Thái Bình Dương bị cáo Vũ đã thu lợi được 500.000đồng; Bán cho Tạ Bảo Quốc và Đinh Ngọc Sơn 02 lần, mỗi lần 200.000 đồng; Bán cho Lê Văn Ry và Đinh Ngọc Sơn 01 lần số tiền 100.000 đồng; bán cho Trần Tấn Thịnh và Đinh Ngọc Sơn 02 lần, mỗi lần 300.000 đồng; bán cho Lê Tuấn Vũ 03 lần, mỗi lần 300.000 đồng; bán cho Lê Công Bằng 01 lần với số tiền 300.000 đồng; bán cho Nguyễn Tấn Quang 01 lần với số tiền 200.000 đồng; Tổng cộng bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ đã thu lợi bất chính là 3.000.000đồng cần phải truy thu sung công quỹ Nhà nước.
Đối với Võ Thái Bình Dương, Bùi Văn Dương, Nguyễn Cường, Lê Tuấn Vũ, Nguyễn Tấn Quang, Đinh Ngọc Sơn, Tạ Quốc Bảo, Trần Tấn Thịnh và Lê Văn Ry có hành vi sử dụng trái phép chất ma túy nên Công an huyện Núi Thành đã ra Quyết định xử phạt hành chính là thỏa đáng.
Đối với Lê Công Bằng, Công an huyện Núi Thành lập hồ sơ vi phạm và Tòa án nhân dân huyện Núi Thành đã ra Quyết định xử phạt hành chính bằng hình thức đưa vào Trung tâm cai nghiện bắt buộc.
Đối với Nguyễn Công Thành là chủ nhà nghỉ Duy Ninh đã có hành vi thiếu trách nhiệm, để người khác lợi dụng sử dụng chất ma túy tại khu vực mình quản lý là hành vi vi phạm hành chính nên Công an huyện Núi Thành đã lập tờ trình đề nghị Chủ tịch UBND huyện Núi Thành đã ra Quyết định xử phạt hành chính đối với Nguyễn Công Thành là có căn cứ.
Đối với đối tượng tên Tý ở Đà Nẵng bán ma túy đá cho Huỳnh Ngọc Vũ và 02 đối tượng đưa giúp ma túy đá cho Vũ vẫn chưa xác định được lai lịch nên không đủ cơ sở để xử lý, khi nào làm rõ sẽ xử lý sau.
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào: Điểm b Khoản 2 Điều 194; Điểm p khoản 1, khoản 2 Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự năm 1999;
Tuyên bố bị cáo: Huỳnh Ngọc Vũ, phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”.
Xử phạt bị cáo: Huỳnh Ngọc Vũ 04 ( Bốn ) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù được tính từ ngày tạm giữ, ngày 20/7/2017.
* Về vật chứng: Áp dụng Điều 41, Điều 42 Bộ luật hình sự năm 1999; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015;
- Tịch thu sung công quỹ: 01(một) điện thoại di động nhãn hiệu XPHONE (chưa kiểm tra chất lượng bên trong) có gắn 02(hai) thẻ sim mang số thuê bao 01666227600 và 01678609046 của bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ.
- Trả lại cho: Bùi Văn Dương 01 điện thoại di động nhãn hiệu OPPO, màu xanh đã bị nứt màn hình cảm ứng, có gắn thẻ sim mang số thuê bao 0968490239; Nguyễn Cường 01 điện thoại di động nhãn hiệu HUAWEI, có gắn thẻ sim mang số thuê bao 01665513036; Võ Thái Bình Dương 01 điện thoại di động nhãn hiệu Nokia màu đen, có gắn thẻ sim mang số thuê bao 01677750884.
- Tịch thu tiêu hủy 01(một) chai nước bằng nhựa có dòng chữ VINALAND, phía trên nắp chai có cắm ống hút màu trắng – tím bằng nhựa được phát hiện tại dưới nền phòng số 5 nhà nghĩ Duy Ninh.
Các tang vật trên hiện đang được lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Núi Thành theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 25/12/2017.
- Tiếp tục thu giữ 01 mãnh giấy trắng (card điện thoại), trên giấy có chữ VIETTEL, mệnh giá 100.000 đồng, mã nạp: 605481954780 và 01 mãnh giấy trắng trên giấy có ghi 04 mã số card điện thoai VIETTEL mỗi mã số thẻ mệnh giá 50.000đồng của Võ Thái Bình Dương giao nộp để lưu hồ sơ vụ án.
- Truy thu sung công quỹ Nhà nước đối với bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ số tiền 3.000.000đồng.
* Về án phí: Áp dụng Điều 23 Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thương vụ quốc hội: Án phí hình sự sơ thẩm bị cáo Huỳnh Ngọc Vũ phải chịu là: 200.000 đồng.
Bị cáo có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, những người tham gia tố tụng vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày niêm yết hoặc tống đạt hợp lệ bản án, để yêu cầu Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam xét xử phúc thẩm.
Trong trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
| Nơi nhận - Các cơ quan tiến hành tố tụng; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ, bộ phận HS; HỘI ĐỒNG XÉT XỬ HỘI THẨM NHÂN DÂN Trần Thị Long Nguyễn Thị Xuân | TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Đinh Thị Huỳnh Lý Đinh Thị Huỳnh Lý THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đinh Thị Huỳnh Lý |