vanban.org

Bản án 40/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về ngoại tình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Hoàng Văn H được ly hôn chị Bế Thị N.

Về nuôi con chung: Giao cho anh Hoàng Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng Văn N, sinh ngày 08/11/2012 đến khi đủ 18 tuổi. Chị Bế Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H. Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung,… Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về ngoại tình — án hôn nhân và gia đình — "BẢN ÁN LY HÔN H-N"
  • Tòa quyết gì? Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Hoàng Văn H được ly hôn chị Bế Thị N.
  • Căn cứ chính? Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 27 NGHỊ QUYẾT SỐ 326/2016/NQ-UBTVQH14 QUY ĐỊNH VỀ MỨC THU, MIỄN…; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự
TOÀ ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN LỤC YÊN
TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 40/2018/HNGĐ-ST
Ngày 18-7-2018.
V/v: Ly hôn.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN LỤC YÊN, TỈNH YÊN BÁI.

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Đăng Ninh.

Các Hội thẩm nhân dân:

Bà Triệu Thị Thuỷ Hoàn

Ông Trương Xuân Vũ

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Mạnh Hùng - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái.

- Kiểm sát viên tham gia phiên tòa: Không

Ngày 18 tháng 7 năm 2018 Tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm, công khai vụ án thụ lý số: 121/2018/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 5 năm 2018 về việc xin ly hôn theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 43/2018/QĐXXST-DS, ngày 18 tháng 6 năm 2018 và quyết định hoãn phiên toà số 32/2018/QĐST-HNGĐ, ngày 28/6/2018 giữa các đương sự:

1. Nguyên đơn: Anh Hoàng Văn H, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

Địa chỉ: Thôn N, xã S, huyện Lục Yên, Yên Bái.

2. Bị đơn: Chị Bế Thị N, vắng mặt.

HKTT: Thôn N, xã S, huyện Lục Yên, Yên Bái.

Nơi ở: Thôn U, xã L, huyện Lục Yên, Yên Bái.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai tiếp theo, nguyên đơn anh H trình bày: Anh và chị N được tự do tìm hiểu và tự nguyện đến UBND xã S, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái đăng ký kết hôn năm 2012. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân chính là do chị N đi làm ăn xa và có quan hệ tình cảm với người đàn ông khác. Sự việc xảy ra anh H đã tha thứ và bỏ qua cho chị N nhưng chị vẫn không thay đổi mà tiếp tục bỏ nhà đi làm ăn xa không quan tâm đến gia đình. Nay anh H xác định tình cảm không còn, đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn chị N.

Về con chung: Anh H và chị N có 01 con tên là Hoàng Văn N, sinh ngày 08/11/2012. Khi ly hôn anh H nhận trực tiếp nuôi con và không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh H không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đối với chị Bế Thị N, sau khi thụ lý vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng cho chị nhưng chị đều vắng mặt không có lý do. Do đó Tòa án đã lập biên bản về việc không tiến hành được phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải và đã hoàn thiện các thủ tục để đưa vụ án ra xét xử theo thủ tục chung.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án, được thẩm tra tại phiên toà. Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Tranh chấp về hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015. Việc thụ lý và giải quyết đơn khởi kiện của Tòa án nhân dân huyện Lục Yên là đúng thẩm quyền về lãnh thổ được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán và Thư ký đảm bảo đúng quy định tại Điều 48 và Điều 51 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.

Về quan hệ hôn nhân: Anh Hoàng Văn H và chị Bế Thị N được tự do tìm hiểu và tự nguyện đến Ủy ban nhân dân xã S, huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái đăng ký kết hôn theo đúng quy định tại Điều 11 Luật hôn nhân gia đình năm 2000 là hôn nhân hợp pháp.

Sau khi kết hôn anh H và chị N sống hạnh phúc đến năm 2017 thì phát sinh mâu thuẫn. Nhận thấy tình cảm vợ chồng không còn, mục đích hôn nhân không đạt được nên anh H xin ly hôn chị N là có căn cứ.

Tại Điều 19 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, quan tâm, chăm sóc, giúp đỡ nhau, cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình”

Căn cứ vào những tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án thì mâu thuẫn vợ chồng giữa anh Hoàng Văn H và chị Bế Thị N đã thực sự lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Hội đồng xét xử xét thấy anh H xin ly hôn chị N là có căn cứ theo Điều 56 Luật hôn nhân gia đình năm 2014.

Về nuôi con chung: Anh Hoàng Văn H và chị Bế Thị N có 01 con chung tên là Hoàng Văn Nt, sinh ngày 08/11/2012. Khi ly hôn anh H nhận trực tiếp nuôi con và không yêu cầu chị N phải cấp dưỡng nuôi con. Hội đồng xét xử xét thấy là phù hợp với quy định của pháp luật, cần được chấp nhận.

Về tài sản chung, nợ chung: Anh Hoàng Văn H không yêu cầu Toà án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xét.

Về án phí: Anh Hoàng Văn H phải chịu toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm theo quy định tại điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UB-TVQH-14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án là đúng pháp luật.

Các đương sự được quyền kháng cáo theo Điều 271, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 51, 56, 57, 81, 82, 83 Luật hôn nhân gia đình năm 2014;

Căn cứ vào khoản 2 Điều 72, khoản 4 Điều 147, khoản 1 Điều 207; Các Điều 227, 271, 273 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ vào điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Xử cho anh Hoàng Văn H được ly hôn chị Bế Thị N.

2. Về nuôi con chung: Giao cho anh Hoàng Văn H trực tiếp trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cháu Hoàng Văn N, sinh ngày 08/11/2012 đến khi đủ 18 tuổi. Chị Bế Thị N không phải cấp dưỡng nuôi con chung cùng anh H.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung, không ai được cản trở.

3. Về án phí: Anh Hoàng Văn H phải chịu 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) tiền án phí dân sự sơ thẩm, nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000đ (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tiền số: AA/2017/0000959, ngày 28/5/2018 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Lục Yên, tỉnh Yên Bái. Xác nhận anh H đã nộp đủ tiền án phí dân sự sơ thẩm.

Án xử công khai, sơ thẩm, anh H, chị N vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.

Cỡ chữ