vanban.org

Bản án 40/2018/HNGĐ-ST — Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình

Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Áp dụng vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

Không chấp nhận yêu cầu của anh Lê Quốc A về việc ly hôn với chị Huỳnh Hồng D. Do không chấp nhận yêu cầu ly hôn nên các yêu cầu của anh A về con chung, tài sản chung, nợ chung không đặt ra xem xét. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Lê Quốc Ảnh với Huỳnh Hồng Diễu"
  • Tòa quyết gì? Áp dụng vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.
  • Căn cứ chính? Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 271 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN U MINH
TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40/2018/HNGĐ-ST
Ngày 26-4-2018
V/v “Tranh chấp hôn nhân và gia đình”

NNHHÂÂNN DDAANNHH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN U MINH, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán-Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hoài Hận

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Trần Công Đẳng

Ông Trần Tấn Tài

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Lụa, là Thư ký Tòa án nhân dân huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

Ngày 26 tháng 4 năm 2018, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện U Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 12/2018/TLST-HNGĐ ngày 10 tháng 01 năm 2018 về việc “Tranh chấp hôn nhân gia đình” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 35/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 27 tháng 02 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 21/2018/QĐST-HNGĐ ngày 20 tháng 3 năm 2018 và số 27/2018/QĐST-HNGĐ ngày 30 tháng 3 năm 2018 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Anh Lê Quốc A, sinh năm 1979 (có mặt)

- Bị đơn: Chị Huỳnh Hồng D, sinh năm 1978 (có mặt)

Cùng địa chỉ cư trú: Ấp 7, xã Khánh Tiến, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Tại đơn khởi kiện ngày 17 tháng 10 năm 2017, tại biên bản hòa giải ngày 09 tháng 02 năm 2018 và tại phiên tòa nguyên đơn anh Lê Quốc A trình bày: Năm 1999 anh với chị D tự nguyện chung sống với nhau, có đăng ký kết hôn tại Uỷ ban nhân dân xã Khánh Tiến, huyện U Minh, tỉnh Cà Mau. Trong quá trình chung sống vợ chồng anh không có mâu thuẫn, không có cự cải hay đánh nhau, vợ anh rất yêu anh và chung thủy với anh, đồng thời vợ anh cũng luôn làm tròn bổn phận dâu con đối với cha mẹ chồng, nhưng anh xét thấy cuộc sống vợ chồng không còn hợp nhau nên anh yêu cầu được ly hôn với chị D.

Về con chung: Trong quá trình chung sống vợ chồng anh có 03 người con chung tên Lê Huỳnh Nhã T sinh ngày 15 tháng 9 năm 2000; Lê Huỳnh Thảo T sinh ngày 06 tháng 10 năm 2007 và Lê Huỳnh Hà T sinh ngày 09 tháng 12 năm 2016. Hiện con chung đang sống cùng với vợ chồng anh, sau khi ly hôn nếu con có nguyện vọng ở cùng ai thì người đó có trách nhiệm nuôi dưỡng.

Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Tại phiên hòa giải ngày 09 tháng 02 năm 2018 và tại phiên tòa, bị đơn chị Huỳnh Hồng D trình bày: Chị thống nhất với lời trình bày của anh A về thời gian chung sống, có đăng ký kết hôn, về con chung, không có tài sản chung và nợ chung có đúng như anh A trình bày. Vợ chồng chung sống từ trước đến nay không có xảy ra mâu thuẫn, vợ chồng vẫn còn chung sống, sinh hoạt với nhau bình thường và chị vẫn đảm bảo về trách nhiệm làm mẹ, làm vợ, làm dâu trong gia đình nên chị không đồng ý ly hôn, chị muốn hàn gắn tình cảm vợ chồng để cùng chăm lo cho con chung. Do chị không đồng ý ly hôn nên về con chung chị không yêu cầu giải quyết đối với con chung. Về tài sản chung và nợ chung không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa Hội đồng xét xử nhận định:

1. Về tố tụng:

Anh Lê Quốc A khởi kiện yêu cầu ly hôn với chị Huỳnh Hồng D là tranh chấp hôn nhân và gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện U Minh theo quy định tại khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật tố tụng dân sự.

2. Về nội dung:

Về hôn nhân: Anh Lê Quốc A và chị Huỳnh Hồng D tự nguyện chung sống vào năm 1999 đến ngày 08 tháng 9 năm 2010 đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã Khánh Tiến do đó quan hệ hôn nhân của anh A với chị D là hôn nhân hợp pháp được pháp luật bảo vệ. Tại phiên hòa giải và tại phiên tòa anh Lê Quốc A xác định vợ chồng không có xảy ra mâu thuẫn nhưng anh xin ly hôn vì anh cho rằng hiện nay cuộc sống vợ chồng không còn hợp nhau nữa, còn chị D xác định vợ chồng không xảy ra mâu thuẫn vợ chồng vẫn sống chung và sinh hoạt bình thường nên chị không đồng ý ly hôn. Xét thấy, anh A với chị D chung sống với nhau từ năm 1999 đến nay, trong quá trình chung sống giữa vợ chồng không phát sinh mâu thuẫn, chị D vẫn đảm bảo nghĩa vụ của người vợ, hàng ngày vẫn chăm sóc chồng con, còn anh A không có hành vi đánh đập, chửi bới hành hạ vợ con, hiện nay vợ chồng hiện vẫn còn sinh hoạt bình thường chung nhà, nên không ảnh hưởng đến đời sống chung của vợ chồng. Đồng thời, anh A với chị D có với nhau 03 người con chung nên rất cần sự chăm sóc, giáo dục của cả cha lẫn mẹ. Do đó Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của anh Lê Quốc A đối với chị Huỳnh Hồng D.

Do không chấp nhận yêu cầu ly hôn của anh A nên các yêu cầu về con chung, tài sản chung, nợ chung không đặt ra xem xét.

- Về án phí: Án phí hôn nhân và gia đình sơ thẩm anh Lê Quốc A phải nộp 300.000 đồng.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ vào khoản 1 Điều 28; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 4 Điều 147; Điều 271; Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;

- Áp dụng vào Điều 51, Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình.

- Căn cứ Điều 27 Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

Không chấp nhận yêu cầu của anh Lê Quốc A về việc ly hôn với chị Huỳnh Hồng D.

Do không chấp nhận yêu cầu ly hôn nên các yêu cầu của anh A về con chung, tài sản chung, nợ chung không đặt ra xem xét.

Án phí dân sự sơ thẩm anh Lê Quốc A phải nộp 300.000 đồng, anh Lê Quốc A đã nộp tạm ứng án phí số tiền 300.000 đồng theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0011760 ngày 04 tháng 01 năm 2018 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện U Minh chuyển thu án phí.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Án xử sơ thẩm, các đương sự có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Viện kiểm sát có quyền kháng nghị bản án theo quy định của pháp luật.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Cỡ chữ