- Tranh chấp gì? Vụ án ly hôn về mâu thuẫn gia đình — án hôn nhân và gia đình — "Vụ Lâm Nhật Thị Kim L-Dương Văn Th"
- Tòa quyết gì? Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lâm Nhật Thị Kim L và anh Dương Văn Th.
- Căn cứ chính? Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử; Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự
| TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
| Bản án số: 40/2018/HNGĐ-ST Ngày: 10-8-2018 “V/v Ly hôn” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU ĐỨC, TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU
-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đào Trọng Hải.
Các Hội thẩm nhân dân:
1. Bà Trần Thị Hạnh.
2. Ông Bùi Huy Xuân.
-Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Hoài Nam - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Bích - Kiểm sát viên.
Ngày 10 tháng 8 năm 2018, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2018/TLST-HNGĐ ngày 16 tháng 01 năm 2018 về tranh chấp ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2018/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 7 năm 2018 và Quyết định hoãn phiên tòa số 23/2018/QĐST-HNGĐ ngày 23 tháng 7 năm 2018 của Tòa án nhân dân huyện Châu Đức giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Chị Lâm Nhật Thị Kim L, sinh năm 1986.
HKTT: Tổ 02, thôn TG, xã LL, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Chỗ ở hiện nay: Tổ 01, thôn L, xã ĐB, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
Bị đơn: Anh Dương Văn Th, sinh năm 1982.
Địa chỉ: Tổ 02, thôn TG, xã LL, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu.
(Chị L có đơn xin vắng mặt, anh Th vắng mặt tại phiên tòa không lý do).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết, nguyên đơn chị Lâm Nhật Thị Kim L trình bày:
Sau khi tìm hiểu nhau được khoảng 01 năm thì chị L và anh Th mới đi đến hôn nhân. Hôn nhân trên cơ sở tự nguyện, có tổ chức lễ cưới vào năm 2005 và đăng ký kết hôn ngày 08 tháng 5 năm 2006 tại Ủy ban nhân dân (UBND) xã LL, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Sau khi kết hôn thì vợ chồng sống chung với gia đình chồng được khoảng 02 năm thì ra sống riêng trên đất do gia đình chồng cho còn nhà tình thương là do Nhà nước cấp cho vợ chồng. Vợ chồng chung sống hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân anh Th không lo làm ăn, thường xuyên ăn nhậu rồi về nhà kiếm cớ gây gổ, đánh đập chị L. Đến khoảng cuối năm 2013 thì chị L đã dẫn theo con chung về nhà cha mẹ ruột tại thôn L, xã ĐB, huyện Châu Đức để sinh sống cho đến nay. Nay, chị L yêu cầu Tòa án giải quyết:
Về hôn nhân: Chị L xin được ly hôn với anh Dương Văn Th.
Về nuôi con chung: Chị L và anh Th có 01 người con chung là Dương Thị Huỳnh Nh, sinh ngày 13-12-2005. Nguyện vọng của chị L xin được quyền nuôi dưỡng cháu Nh và không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Đối với anh Dương Văn Th đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhiều lần nhưng vẫn cố tình vắng mặt không có lý do vì vậy không thể lấy lời khai và tiến hành hòa giải được.
Phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa:
Về tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án thì Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; Bị đơn không thực hiện đúng phần quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu xin ly hôn của nguyên đơn.
Về nuôi con chung: Giao cháu Dương Thị Huỳnh Nh cho chị L được quyền nuôi dưỡng; Ghi nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản chung: Chị L không yêu cầu nên không giải quyết.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Về tố tụng: Chị L và anh Th sống chung với nhau có đăng ký kết hôn nay chị L yêu cầu ly hôn nên đây là tranh chấp về hôn nhân và gia đình. Nơi cư trú của anh Th là xã LL, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu nên Tòa án nhân dân huyện Châu Đức thụ lý, giải quyết là đúng thẩm quyền theo quy định tại khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Chị L vắng mặt nhưng đã có đơn đề nghị Tòa án xét xử vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại khoản 1 Điều 227; Khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Anh Th đã được triệu tập hợp lệ lần thứ hai (không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan) nhưng vẫn vắng mặt nên Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về hôn nhân: Hôn nhân giữa chị L và anh Th trên cơ sở hoàn toàn tự nguyện và có đăng ký kết hôn vào ngày 08 tháng 5 năm 2006 tại UBND xã LL, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu. Sau khi kết hôn, cuộc sống vợ chồng hạnh phúc đến năm 2013 thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân theo chị L là anh Th sống không có trách nhiệm với gia đình, thường ăn nhậu rồi về kiếm cớ gây gổ, đánh đập chị L nên dần dần tình cảm vợ chồng không còn. Từ cuối năm 2013 thì vợ chồng ly thân, trong thời gian ly thân thì vợ chồng cũng không tìm cách hàn gắn tình cảm. Sau khi thụ lý đơn yêu cầu ly hôn của chị L, Tòa án đã tiến hành triệu tập anh Th để làm việc và hoà giải về quan hệ hôn nhân nhưng anh Th vẫn không đến chứng tỏ anh Th không có thiện chí đoàn tụ. Tòa án cũng đã xác minh về tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh Th tại địa phương nơi vợ chồng sinh sống; Kết quả xác minh cho thấy mâu thuẫn giữa chị L và anh Th là có thật. Hiện anh Th sống cùng gia đình tại địa chỉ tổ 02, thôn TG, xã LL, huyện Châu Đức, tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu còn chị L không sống tại địa phương. Như vậy, tình trạng hôn nhân giữa chị L và anh Th ngày càng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và gia đình xử cho chị L được ly hôn với anh Th.
Về nuôi con chung: Chị L và anh Thcó 01 người con chung là Dương Thị Huỳnh Nh, sinh ngày 13-12-2005. Từ khi vợ chồng ly thân thì chị L là người trực tiếp nuôi dưỡng cháu Nh, hiện cháu Như đã đủ 07 tuổi và có nguyện vọng xin được sống với chị L nên cần áp dụng khoản 2 Điều 81 Luật Hôn nhân và gia đình giao cháu Nh cho chị L tiếp tục nuôi dưỡng; Ghi nhận sự tự nguyện của chị L không yêu cầu anh Th cấp dưỡng nuôi con chung.
Về chia tài sản chung: Chị L không yêu cầu nên Tòa án không xem xét, giải quyết.
Về án phí: Chị L phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm (DSST) đối với yêu cầu ly hôn.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, khoản 1 Điều 35; khoản 1 Điều 39; điểm b khoản 2 Điều 227; khoản 3 Điều 228; Khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
Căn cứ vào Điều 56, 81, 82, 83, 84 Luật Hôn nhân và gia đình;
Căn cứ khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
1.Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa chị Lâm Nhật Thị Kim L và anh Dương Văn Th.
2.Về nuôi con chung: Chị Lâm Nhật Thị Kim L và anh Dương Văn Th có 01 người con chung là Dương Thị Huỳnh Nh, sinh ngày 13-12-2005;
Giao con chung Dương Thị Huỳnh Nh cho chị Lâm Nhật Thị Kim L trực tiếp nuôi dưỡng.
Ghi nhận sự tự nguyện của chị Lâm Nhật Thị Kim L không yêu cầu anh Dương Văn Th cấp dưỡng nuôi con chung.
Anh Dương Văn Th có quyền, nghĩa vụ thăm nom con chung mà mình không trực tiếp nuôi dưỡng không ai được quyền cản trở.
Vì lợi ích của con, theo yêu cầu của cha, mẹ hoặc cá nhân, tổ chức quy định tại khoản 5 Điều 84 Luật Hôn nhân và gia đình, Tòa án có thể quyết định thay đổi người trực tiếp nuôi con.
3.Về chia tài sản chung: Không yêu cầu Tòa án giải quyết.
4.Về án phí: Chị Lâm Nhật Thị Kim L phải nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn nhưng được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) mà chị L đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Đức theo biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số TU/2017/0000141 ngày 16 tháng 01 năm 2018; Chị Lâm Nhật Thị Kim L đã nộp xong án phí DSST đối với yêu cầu ly hôn.
Thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày tuyên án (10-8-2018), đối với chị Lâm Nhật Thị Kim L và anh Dương Văn Th vắng mặt thì thời hạn này được tính kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa-Vũng Tàu xét xử phúc thẩm.
| Nơi gởi: - TAND Tỉnh BR- VT - VKSND H.CĐ - CÁC Đương sự - THADS H.CĐ - lưu | TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Đào Trọng Hải |