vanban.org

Bản án 40/2017/HSST — Hình sự

TAND huyện Thống Nhất, tỉnh Đồng Nai Tuyên án 21/06/2017 Hình sự Sơ thẩm
Tên đương sự đã được mã hóa
Tải về
Tòa tuyên

Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thanh M phạm tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”.

Xử phạt: Lê Thị Thanh M 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng). Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án. Xem nguyên văn phần Quyết định

Tóm lược tự động từ phần Quyết định
chỉ mang tính tham khảo
Tóm tắt 30 giây — tóm lược tự động từ nội dung bản án, chỉ mang tính tham khảo
  • Tranh chấp gì? án hình sự — "làm giả con dấu, tài liệu cơ quan tổ chức - phạm tội làm giả con dấu, tài liệu cơ quan (điều 267 Bộ luật hình sự năm 1999)"
  • Tòa quyết gì? Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thanh M phạm tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”.
  • Căn cứ chính? Điều 46 Bộ luật Hình sự; Điều 199 Bộ luật Tố tụng hình sự; Điều 202 Bộ luật Hình sự
TÒA ÁN NHÂN DÂN
HUYỆN THỐNG NHẤT
TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 40 /2017/HSST
Ngày: 21/6/2017

NHÂN DANH

NƢỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT – TỈNH ĐỒNG NAI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lƣu Hồ Lân

Các Hội thẩm nhân dân:

1/ Ông Trọng Văn Cắm

2/ Bà Hà Thị Linh Thúy

Thư ký phiên tòa: Bà Hoàng Thị Lan – thẩm tra viên Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất tham gia phiên tòa: Bà Ngô Phƣơng Hoàng Giang- Kiểm sát viên.

Ngày 21/6/2017 tại Hội trường xét xử A – Tòa án nhân dân huyện Thống Nhất xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 39/2017/HSST ngày 24 tháng 5 năm 2017 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 40/2017/HSST ngày 24/5/2017 đối với bị cáo:

Lê Thị Thanh M- sinh ngày 6/8/1970 tại Đồng Nai; Nơi cư trú: 47/B3, ấp Đức Long, xã GT 2, huyện TN, tỉnh ; Nghề nghiệp: Buôn bán; Trình độ học vấn: 12/12; Dân tộc: Kinh; Họ tên cha: Lê P (đã mất) và Họ tên mẹ: Phạm Thị Huyền S – sinh năm 1942; Họ và tên chồng: Nguyễn Nam L – sinh năm 1966; Bị cáo có 02 ngươi con, người con thứ nhất sinh năm 1994, người con thứ hai sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: Không; Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chăn cấm đi khỏi nơi cư trú (có mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Năm 2009, do có nhu cầu kinh doanh quầy thuốc tây bán lẻ tuy nhiên chưa có bằng tốt nghiệp Trung cấp chuyên nghiệp ngành Dược sĩ, Lê Thị Thanh M đã nhờ Nguyễn Thị Thanh N (hiện đã chết) làm giúp một bằng Trung cấp chuyên nghiệp ngành Dược sỹ với giá 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Nguyễn Thị Thanh N đồng ý và sau ba tháng Nguyễn Thị Thanh N giao cho Lê Thị Thanh M 01 bằng trung cấp chuyên nghiệp ngành Dược sỹ tại Trường trung cấp quân y 2 giả, số D 275365/GD – ĐT ngày 29/4/2009. Sau đó, Lê Thị Thanh M đã sử dụng bằng tốt nghiệp nêu trên để thực hiện giao dịch lừa dối Sở y tế tỉnh Đồng Nai với mục đích được cấp thủ tục đủ điều kiện kinh doanh quầy thuốc tây. Cụ thể:

Vào khoảng cuối năm 2012, Lê Thị Thanh M sử dụng bằng tốt nghiệp giả trung cấp chuyên nghiệp ngành Dược sỹ tại Trường trung cấp quân y 2 số D 275365/GD – ĐT ngày 29/4/2009 giả cùng bản sao giấy chứng minh nhân dân, lý lịch cá nhân và giấy khám sức khỏe nộp đến Sở y tế tỉnh Đồng Nai để xin cấp chứng chỉ hành nghề dược. Căn cứ vào hồ sơ của Lê Thị Thanh M, ngày 26/6/2012, Sở y tế cấp chứng chỉ hành nghề số 2355/CCHND – SYT cho Lê Thị Thanh M. Sau khi có Chứng chỉ hành nghề dược, Lê Thị Thanh M làm hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận đạt nguyên tắc, tiêu chuẩn “thực hành tốt nhà thuốc” (hồ sơ gồm bản sao công chứng chứng chỉ hành nghề dược, bản sao công chứng Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh, đơn xin cấp theo mẫu của Bộ y tế) và được Sở y tế cấp giấy chứng nhận đạt nguyên tắc, tiêu chuẩn thực hành tốt nhà thuốc số 865/GPP ngày 12/11/2012. Sau đó, Lê Thị Thanh M làm hồ sơ xin cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh quầy thuốc (hồ sơ gồm bản sao công chứng chứng chỉ hành nghề dược, bản sao công chứng Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hộ kinh doanh, bản sao công chứng Giấy chứng nhận đạt nguyên tắc, tiêu chuẩn “thực hành tốt nhà thuốc” đơn xin cấp theo mẫu của Bộ y tế) đến ngày 04/01/2013 được Sở y tế tỉnh Đồng Nai cấp Giấy chứng nhận đủ điều kiện kinh doanh quầy thuốc số 2355/CNĐĐKKDT – SYT.

Tiếp đến, vào ngày 22 tháng 07 năm 2016, Lê Thị Thanh M sử dụng bằng trung cấp chuyên nghiệp ngành Dược sỹ tại Trường trung cấp quân y 2 số D 275365/GD – ĐT ngày 29/4/2009 giả để làm thủ tục xin cấp mới giấy chứng chỉ hành nghề dược. Sau khi tiếp nhận hồ sơ của Lê Thị Thanh M , Sở y tế tỉnh Đồng Nai tiến hành thẩm định, gửi công văn đến Trường Trung cấp quân y 2 để xác minh và phát hiện bằng tốt nghiệp trung học chuyên nghiệp ngành dược sĩ số D 275365/GD – ĐT ngày 29/4/2009 là giả nên Sở y tế Đồng Nai đã chuyển hồ sơ đến cơ quan có thẩm quyền xử lý theo quy định của pháp luật.

Căn cứ kết luận giám định số 24/KL – GĐ ngày 23/01/2017, xác định:

- Chữ ký mang tên Nguyễn Mạnh Khang trên tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định với chữ ký mang tên Nguyễn Mạnh Khang trên các tài liệu nêu ở phần mẫu so sánh không phải do cùng một người ký ra.

- Hình dấu tròn Trường Trung cấp quân y 2 trên tài liệu nêu ở phần mẫu cần giám định với hình dấu tròn của Trường Trung cấp quân y 2 trên các tài liệu ở phần mẫu so sánh không phải do cùng một con dấu đóng ra.

Quá trình điều tra, bị can Lê Thị Thanh M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên.

Tại bản cáo trạng số: 44/CT. VKS – HS ngày 23/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất truy tố bị cáo Lê Thị Thanh M về tội “làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 267 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa Kiểm sát viên giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 26, điểm h,p khoản 1 Điều 46, Điều 30 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo Lê Thị Thanh M từ 12 đến 14 triệu đồng.

Bị cáo Lê Thị Thanh M nói lời sau cùng: yêu cầu Tòa án xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:

“Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm

tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:”

1 Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện Thống Nhất, Điều tra viên; Viện Kiểm Sát nhân dân huyện Thống Nhất, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Qúa trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

2 Tại phiên tòa bị cáo Lê Thị Thanh M đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Đúng như bản cáo trạng số 44/CT. VKS – HS ngày 23/5/2017 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất đã truy tố đủ cơ sở kết luận: do có nhu cầu kinh doanh quầy thuốc tây bán lẻ tuy nhiên chưa có bằng tốt nghiệp Trung cấp chuyên nghiệp ngành Dược sĩ, Lê Thị Thanh M đã nhờ Nguyễn Thị Thanh N (hiện đã chết) làm giúp một bằng Trung cấp chuyên nghiệp ngành Dược sỹ với giá 10.000.000 đồng (mười triệu đồng). Sau khi có được bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp ngành Dược sỹ tại Trường trung cấp quân y 2 số D 275365/GD – ĐT ngày 29/4/2009 giả, Minh đã sử dụng bằng tốt nghiệp trên thực hiện giao dịch lừa dối Sở y tế tỉnh Đồng Nai với mục đích được cấp thủ tục đủ điều kiện kinh doanh quầy thuốc tây. Sau đó bị phát hiện xử lý. Viện kiểm sát nhân dân huyện Thống Nhất đã truy tố bị cáo Lê Thị Thanh M về tội “Làm giả con dấu, tai liệu của cơ quan tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 267 Bộ luật Hình sự là có căn cứ chính xác, đúng người, đúng tội, đúng quy định pháp luật.

3 Hành vi của bị cáo nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trật tự quản lý hành chính. Xâm phạm hoạt động bình thường và uy tín của cơ quan nhà nước, ảnh hưởng đến trật tự trị an và an toàn xã hội. Cần có mức án tương xứng với hành vi của bị cáo gây ra nhằm cải tạo, giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.

4 Xét nhân thân bị cáo và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ: bị cáo không có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là những tình tiết giảm nhẹ được xem xét khi lượng hình. Xét bị cáo có nhiều tình tiết giảm nhẹ nên phạt tiền đối với bị cáo là đủ nghiêm.

5 Về xử lý vật chứng của vụ án:

Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện Thống Nhất đã thu giữ bằng tốt nghiệp trung cấp chuyên nghiệp ngành Dược sỹ tại Trường trung cấp quân y 2 số D 275365/GD – ĐT ngày 29/4/2009 giả cần lưu hồ sơ vụ án.

6 Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố bị cáo Lê Thị Thanh M phạm tội: “Làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan tổ chức”.

Áp dụng khoản 1 Điều 267; điểm h, p khoản 1Điều 46; Điều 30 Bộ luật hình sự;

Xử phạt: Lê Thị Thanh M 14.000.000đ (mười bốn triệu đồng).

Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

Buộc bị cáo Lê Thị Thanh M phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND T.Đồng Nai;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND H.Đồng Nai;

- Công an H.Thống Nhất

- Chi cục THADS H.Thống Nhất;

- Bị cáo;

- Lưu H.s; AV.

Lƣu Hồ Lân

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Hà Thị Linh Thúy Trọng Văn Cắm

Lƣu Hồ Lân TOÀ ÁN NHÂN DÂN CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM HUYỆN THỐNG NHẤT

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

TỈNH ĐỒNG NAI

BIÊN BẢN NGHỊ ÁN

----------------------

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THỐNG NHẤT

Với Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Đặng Quang Phúc

- Các hội thẩm nhân dân: 1/ Bà Huỳnh Thị Châu

2/ Bà Đặng Thị Thơm

Căn cứ vào Điều 199 và Điều 222 của Bộ luật tố tụng hình sự.

Vào hồi........ giờ........ phút, ngày 06 tháng 01 năm 2017, tại phòng nghị án.

Hội đồng xét xử sơ thẩm đã tiến hành nghị án đối với vụ án: “Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ” đối với bị cáo Vũ Thị Ngọc Chinh.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ toàn diện các chứng cứ, ý kiến của kiểm sát viên, bị cáo;

Hội đồng xét xử thảo luận về những vấn đề phải giải quyết trong vụ án như sau:

1.Về tội danh:

Bị cáo Vũ Thị Ngọc Chinh phạm tội: "Vi phạm quy định về điều khiển phương tiện giao thông đường bộ"

Kết quả biểu quyết: 3/3

2. Về điều luật áp dụng và hình phạt:

Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 202; điểm p, b khoản 1, khoản 2 Điều 46; Điều 47 Bộ luật hình sự;

Xử phạt bị cáo Vũ Thị Ngọc Chinh ......................................................Thời hạn tù tính từ ngày 11/10/2016.

Kết quả biểu quyết: 3/3

3. Các vấn đề khác:

Về án phí: Căn cứ khoản 1 Điều 99 Bộ luật Tố tụng hình sự, Pháp lệnh án phí, lệ phí Tòa án số 10/PL - UBTVQH ngày 27/02/2009 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Buộc bị cáo Vũ Thị Ngọc Chinh phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.

Bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, đại diện hợp pháp của người bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Kết quả biểu quyết: 3/3

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Các hội thẩm nhân dân

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa Nơi nhận:

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

- TAND T.Đồng Nai;

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

- VKSND H.Đồng Nai;

- Công an H.Thống Nhất

- Chi cục THADS H.Thống Nhất;

- Bị cáo;

- Lưu H.s; AV.

Đặng Quang Phúc

Cỡ chữ